Tin tức

Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh 1968 từ hồi ức “Tướng Cao Văn Khánh”

Chủ nhật, 08/07/2018 - 08:33

Ngày 9/7/2018, tại TP. Vinh (Nghệ An), nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Đường 9 - Khe Sanh (1968-2018), Hội thảo khoa học cấp Bộ Quốc phòng sẽ được tổ chức với chủ đề “Chiến thắng đường 9 - Khe Sanh 1968: Tầm vóc và bài học lịch sử”. Tại hội thảo, nhiều tướng lĩnh hàng đầu Việt Nam hiện nay sẽ có tham luận. Rất tiếc, các tướng lĩnh trực tiếp chỉ huy chiến dịch này như các ông Trần Quý Hai, Lê Quang Đạo… nay đã ở cõi khác. Tuy vậy, thật là may mắn, chúng ta vừa có được những dòng chữ, nói đúng ra là 30 trang sách khổ lớn, như được viết từ chiến trường máu lửa Đường 9-Khe Sanh của vị chỉ huy trực tiếp chiến dịch từ đầu đến cuối. Đó là Trung tướng Cao Văn Khánh, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

 
Đại tá Cao Văn Khánh (người đứng giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Bí thư Lê Duẩn) báo cáo tình hình chiến sự tại cuộc họp Bộ Chính trị ngày 30/12/1967. Ảnh: T.L
  
Tôi gọi đây là “Bản tham luận đặc biệt” vì người viết là Phó Giáo sư sinh học, nguyên Phó Viện trưởng Viện Pasteur TP.Hồ Chí Minh Cao Bảo Vân, con gái yêu của Cao Văn Khánh. Do nhiễm chất độc da cam tại chính mặt trận Đường 9-Khe Sanh, Cao Văn Khánh bị ung thư ở một vị trí hiểm hóc, nên mặc dù phu nhân của ông là Đại ta, bác sĩ Ngọc Toản và giáo sư Tôn Thất Tùng hết lòng chăm sóc, cứu chữa nhưng không phát hiện được sớm và ông đã qua đời năm 1980. Cao Bảo Vân đã dành 10 năm nghiên cứu các cuốn sổ của cha mìnhh để lại, đọc hàng vạn trang sách của cả hai phía chiến trận, trong đó có hầu hết hồi ký của các tướng lĩnh hàng đầu Việt Nam, rồi gặp gỡ rất nhiều thư ký của các danh tướng như Võ Nguyên Giáp, Lê Trọng Tấn, Hoàng Minh Thảo, Vương Thừa Vũ…để viết nên hồi ký “Tướng Cao Văn Khánh” dày 800 trang khổ lớn (NXB Trí thức, 2018).

Trong số các tướng lĩnh Việt Nam, Cao Văn Khánh là một trong số ít vị tướng tham gia, chỉ đạo trực tiếp hầu hết chiến dịch quan trọng nhất mà cũng ác liệt nhất suốt trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, là người được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tin cậy trao những trọng trách khó khăn nhất từ ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp cho đến cuộc Tổng tiến công Xuân 1975 với chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng.
 

Nhận định tổng quát về Cao Văn Khánh, Đại tá Nguyễn Chấn, đồng đội của ông từ hồi đánh đồi Độc Lập ở Điện Biên Phủ đã viết: “Cao Văn Khánh là một trong số ít vị tướng tài của dân tộc ta. Anh là Chiến tướng, là Trí tướng, là Nhân tướng, là Danh tướng của Quân đội Nhân dân Việt Nam…” ( *) .
  
Riêng với Quảng Trị, Cao Văn Khánh như có duyên nợ đặc biệt: Ông là Tư lệnh chiến dịch Đường 9-Khe Sanh, rồi tiếp liền là Tư lệnh Binh đoàn B70 - Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1970-1971) và lại là vị chỉ huy trận đánh cuối cùng tại Cửa Việt để giữ vùng đất giải phóng trước khi ký Hiệp định Paris…Về vai trò của Cao Văn Khánh, chỉ xem tấm ảnh “Cuộc họp Bộ Chính trị ngày 30/12/1967” bàn kế hoạch tác chiến năm 1968, trong đó Phó Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Khánh đứng giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Bí thư Lê Duẩn, báo cáo diễn biến mới nhất chiến sự miền Nam, chúng ta có thể hiểu Cao Văn Khánh là một trong số các tác giả của những chiến dịch lớn sắp diễn ra.

Thực ra, khi mở đầu chiến dịch Đường 9-Khe Sanh, Cao Văn Khánh mới chỉ là đại tá, Tư lệnh chiến dịch là Thiếu tướng Trần Quý Hai, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị là Bí thư Đảng ủy mặt trận, Cao Văn Khánh là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng mặt trận. Nhưng giữa lúc chiến dịch đang diễn ra quyết liệt đến mức Mỹ đã tính tới kế hoạch dùng bom nguyên tử tại Khe Sanh (“Tướng Westmoreland đã cho thành lập một bộ phận bí mật chuyên nghiên cứu về khả năng sử dụng bom nguyên tử chiến thuật trong trường hợp Khe Sanh thất thủ nhưng kế hoạch bị rò rỉ” và bị nhiều thế lực phản đối) - đúng vào lúc đó thì “Tướng Trần Quý Hai lại bị chảy máu dạ dày” và “Bí thư Quân uỷ Trung ương gọi điện cho tướng Lê Quang Đạo” cử Cao Văn Khánh thay Trần Quý Hai.

“Chiến dịch căng thẳng tột độ ngay trước giờ mở màn. Cao Văn Khánh và cả Bộ Tư lệnh mặt trận Khe Sanh bị đánh úp bằng B.52 rải thảm ngay trong ngày mồng 1 Tết năm 1968… do sơ suất của bộ phận chuẩn bị là để rất nhiều đường mòn và đường điện thoại kéo lộ thiên…”. Sau khi B.52 rải thảm đúng vào Bộ chỉ huy chiến dịch, “hai nhóm bảo vệ, mặc áo giáp chống đạn...” dẫn Tư lệnh Trần Quý Hai và Chính ủy Lê Quang Đạo “dời đô”, nhưng đường rừng tối mịt, không thể tìm được lối ra, B.52 lại rải tiếp bom xung quanh, “hai bảo vệ lập tức nằm đè lên các thủ trưởng Hai và Đạo che chắn. Hai chiến sĩ bảo vệ đã bị thương…”. Giữa lúc nguy nan đó thì lóe ánh đèn pin của Phó Tư lệnh Cao Văn Khánh, anh rời chỉ huy sở sau cùng để cố khôi phục máy phát-thu chỉ huy, xóa hết dấu vết…Và với kinh nghiệm chiến đấu dưới tầm B.52 tại chiến trường Tây Nguyên, lại đã quen tìm đường giữa rừng sâu khi sinh hoạt hướng đạo với ông Tạ Quang Bửu từ trước năm 1945, Cao Văn Khánh đã đưa mọi người ra khỏi cửa tử.

Để thấy “tầm vóc” của chiến dịch này, từ góc nhìn của đối phương, tác giả Cao Bảo Vân đã dẫn ra vài chi tiết, đủ chứng tỏ vị trí quan trọng của chiến dịch, không chỉ đối với chiến tranh Việt Nam. “Tổng thống Lyndon Johnson theo sát chiến cuộc Khe Sanh trên sa bàn được dựng ngay trong phòng tình huống ở Nhà Trắng. Washington lo ngại đây sẽ là một Điện Biên Phủ nữa. Theo nhà báo Stanley Karnoww, “thậm chí, họ còn yêu cầu tướng Westmoreland… phải ký giấy cam đoan không được để mất Khe Sanh vì đó là danh dự của nước Mỹ”, đây là một việc chưa có trong tiền lệ…”. Và hơn 40 năm sau, trong diễn văn nhậm chức, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, đã nhắc đến Khe Sanh cùng với tên các trận đánh nổi tiếng trên thế giới như Concord, Gettysburg, Normandy, đủ thấy tầm vóc kỳ vĩ của chiến dịch trên vùng đất miền Tây Quảng Trị nửa thế kỷ trước.

Ở một khía cạnh khác, có những con số cũng cho chúng ta hình dung được tầm vóc của chiến dịch: “Thời điểm này, ở tuyến Đường 9-Khe Sanh đang tập trung 28.000 quân Mỹ bao gồm Sư đoàn Kỵ binh bay, Sư đoàn 101 không vận, Sư đoàn Thủy quân lục chiến và 27.000 lính Việt Nam Cộng hòa với không quân, pháo hạm yểm trợ dày đặc…Tướng Westmoreland còn cho phát động một chiến dịch “khai quang” tổng lực Ranch Hand kéo dài 9 năm, cao điểm là 1967-1968 với hơn 10 triệu gallon chất diệt lá đã rải xuống những khu rừng già trên đường mòn Hồ Chí Minh… Đồng thời, chiến dịch Niagara II ném bom rải thảm với hơn 100.000 tấn bom, cày nát 32 km2 chiến trường với mức độ tàn khốc chưa từng có…”.

Dưới tầng tầng bom đạn và chất độc dioxin đó, trên 20.000 quân chủ lực của ta đã chiến đấu hết sức kiên cường. Rất nhiều sách, báo đã viết về những tấm gương đó. Với Cao Văn Khánh, ngay khi nhận vai trò chỉ huy mặt trận thay Tư lệnh về dưỡng bệnh, đã “họp với các sĩ quan tham mưu, nhấn mạnh con người mới là quyết định và chiến thuật, vũ khí nào cũng có điểm yếu và lỗ hổng ở những nơi không ngờ nhất”. Ông bình tĩnh phân công nhiệm vụ: “Địch sẽ dùng Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 và Chiến đoàn dù 3 để giải tỏa Khe Sanh. Ta cần tận dụng mọi lực lượng hiện có, nắm chắc thời cơ tiêu diệt địch ngoài công sự. Bộ phận đang vây ép và vây lấn Tà Cơn củng cố công sự, phải dũi vào sát hàng rào địch để hạn chế tác dụng của B.52, khống chế giam chân địch trong căn cứ… Những đơn vị cơ động phải luôn luôn sẵn sàng đánh quân đổ bộ đường không, triệt để cô lập sân bay Tà Cơn. Đánh ngay khi chúng đứng chân chưa vững…”.

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh, quân đội ta “kiên trì với chiến thuật vây lấn áp sát để vô hiệu hóa máy bay ném bom và chặn đường máy bay tiếp tế. Trong cuộc đối đầu, ăn nhau ở sự kiên gan. Phía Mỹ đã bắt đầu rất sốt ruột và mệt mỏi. Thái độ chiến đấu lăn xả của quân giải phóng đã làm rúng động đối phương…”.

 

Tin của hãng AP ngày 2/2/1968 viết: “Mặc cho bom đạn trút xuống như mưa, quân Bắc Việt vẫn bám trụ trong hầm hố giao thông hào, nhằm bắn các máy bay vận tải C-130 đang đến gần và pháo kích địa điểm hạ cánh… Lính thủy quân lục chiến sống sót bên trong căn cứ tinh thần sa sút cực độ, do bị pháo kích mỗi ngày, lính bị thương và chết trận không mang đi được. Lương thực và thuốc men tiếp tế từ 380-400 tấn /ngày đã giảm xuống 150-180 tấn/ngày. Đầu óc họ luôn căng thẳng với 20.000 lính đối phương luôn túc trực ở ngoài, chỉ chờ lệnh là mở cuộc tấn công vào căn cứ, họ phải thốt lên: Sống ở Khe Sanh nào khác gì bị kết án ngồi trên ghế điện…”.

 

Không chịu nổi sự “tra tấn” đó, Mỹ đã buộc rút bỏ Khe Sanh. “Ngày 9 tháng 7, bộ đội chiếm giữ cứ điểm Tà Cơn, Khe Sanh hoàn toàn giải phóng…Cờ đỏ sao vàng tung bay rợp trời Khe Sanh-Hướng Hóa…Chiến dịch Khe Sanh đã hoàn thành nhiệm vụ nghi binh, thu hút lực lượng Mỹ, hỗ trợ cho các chiến trường…”. Thắng lợi có khi còn quan trọng hơn, là sau Khe Sanh, “người dân Mỹ choáng váng…Họ chán nản với sự bạo tàn ngày càng tăng của cuộc chiến…Chính phủ Mỹ bị rúng động tận chân móng, còn chính quyền Việt Nam Cộng hòa thì hoàn toàn bị động và chứng tỏ không có khả năng tự bảo vệ...”. Chính từ đó, chúng ta đã giành thế mạnh trong Hiệp định Paris và giành toàn thắng trong chiến dịch Xuân 1975.

 

Xin hãy trở lại với nhân vật chính trong bài viết. Vào ngày cờ giải phóng phấp phới trên đỉnh Tà Cơn, 22 giờ đêm, Cao Văn Khánh ghi nhật ký: “Đài Phát thanh vừa phát xong bản thông cáo của Bộ Chỉ huy Mặt trận Khe Sanh. Chắc giờ này em của anh ở nhà cũng vui mừng phấn khởi với người thân nhất của mình đã đóng góp vào chiến thắng vẻ vang đó của dân tộc. Không những thế mà anh nghĩ rằng em đã đóng góp phần xứng đáng của mình vào chiến thắng oanh liệt Khe Sanh. Em đã động viên anh rất nhiều trong suốt 6 tháng nay, để suy nghĩ tìm mọi cách đem chiến thắng lại cho miền Nam…”.

 

Tròn nửa thế kỷ đã qua từ những ngày máu lửa đạn bom rung chuyển từ Khe Sanh tới tận thủ đô của Hoa Kỳ, cùng với nhiều nghĩa trang, nhiều tượng đài đã được dựng lên. Dẫu biết là đất Quảng Trị “ra ngõ là gặp anh hùng” nhưng với một vị tướng gắn bó với vùng đất lửa này ở nhiều thời điểm rất đặc biệt, không biết đã có ai nghĩ là nên dành một con đường mang tên “Cao Văn Khánh” chưa?



Theo Trương Khắc Phê/ QT

Thích và chia sẻ bài viết qua

Nhập bình luận của bạn:

Ý kiến bạn đọc ()

Lịch phát sóng truyền hình

Thăm dò ý kiến

Bạn xem Truyền hình Quảng Trị bằng phương thức truyền dẫn nào?
Sóng mặt đất (VHF - 6)
Vệ tinh (Vinasat 1)
Truyền hình cáp
Truyền hình Internet (OTT)
Truyền hình IP (MyTv)
Truyền hình di động (MobileTV)
Mạng xã hội