Tin tức

Nơi thượng nguồn Ô Lâu

Thứ sáu, 12/10/2018 - 09:37

Ô Lâu - Một trong 4 dòng sông lớn của vùng đất Quảng Trị. Cùng bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, nhưng không chảy thẳng ra biển như Bến Hải, Hiếu Giang hay Thạch Hãn, mà Ô Lâu lại vòng về phía nam rồi đổ nước vào phá Tam Giang, trở thành một phần ranh giới tự nhiên giữa Hải Lăng - Quảng Trị và Phong Điền - Thừa Thiên- Huế.

 
 Cắm trại trên dãy Chiêm Dòng

Trong "Ô Châu cận lục" của Tiến sĩ Dương Văn An, sông Ô Lâu được miêu tả với vẻ đẹp "Nước trời lấp lánh, hoa nở ngạt ngào, hương bay mười dặm, lá biếc lay động như hài vượt sóng...". Sông nước ấy, vẻ đẹp ấy đã sinh ra người dân có nhân tâm thuần hậu gắn với những câu chuyện tình đã đưa Ô Lâu trở thành dòng sông tình sử, dòng sông huyền sử và dòng sông thi ca. 
 
Tìm về nơi thượng nguồn Ô Lâu, chúng tôi chỉ biết dựa vào tấm bản đồ nên phân vân chưa biết phải bắt đầu từ đâu? Người đời vẫn thường bảo rằng “ Cây có cội, nước có nguồn”; “ Núi có cao thì sông mới sâu” Vậy dòng Ô Lâu khởi thủy từ đâu? Ngọn núi ấy có sự tích gì, huyền thoại hay lịch sử? Chúng tôi đã tìm gặp ông Lê Văn Hoan, một cán bộ cách mạng từng sống và chiến đấu nhiều năm trên vùng núi Dốc Miếu, Chiêm Dồng, nơi đầu nguồn của dòng Ô Lâu tả trạch.
 
Hỏi chuyện ông Hoan về những ngày ở núi hoạt động cách mạng, ở đó có những cái tên như: Địa đạo Hà Đông, Bệnh viện Cà Mau, căn cứ Mac Namara, đồi Dốc Miếu, ông Hoan bảo rằng: những ngày đó đã cho ông nhận ra nhiều bài học cuộc sống, bài học lịch sử quý báu từ thực tế cuộc chiến gian khổ, ác liệt nhưng không hề nao núng của đồng bào, đồng chí trước kẻ thù. Biết chúng tôi có ý định ngược lên miền Tây Hải Lăng, tìm về nơi thượng nguồn dòng Ô Lâu, ông Hoan mắt ngấn lệ như muốn gửi gắm tình cảm sâu nặng của ông với sông núi quê nhà đã chở che cho ông qua đói rét, qua mưa bom bão đạn.
 
Chiếc xe hai cầu chuyên leo núi chở gỗ rừng trồng đưa chúng tôi cùng với đoàn cán bộ, chiến sĩ Huyện đội Hải Lăng hành trình ngược núi. Xe chạy gần 3 giờ đồng hồ theo tuyến đường nhựa do Mỹ làm từ khoảng thời gian sau Mậu Thân 1968 để xe tăng và phương tiện cơ giới đi từ quốc lộ 1A lên Cao điểm 367. Sau ngày hòa bình, con đường này trở thành đường dân sinh để người dân các xã: Hải Trường, Hải Sơn, Hải Lâm…lên khai phá miền Tây Hải Lăng.
                  
Trời bất chợt đổ mưa, tiếng mưa rừng nghe thật nặng giữa không gian bốn bề im lắng… Những quả sim nhạt nhòa sủng nước, bất chợt lại thấy nao lòng với câu hát “ Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt”. Cách chân Cao điểm 367 gần một cây số, chiếc xe 2 cầu  không còn đi được nữa. Mọi người đành chia nhau đồ đạc, mỗi người phải mang vác gần 3 chục cân, ưu tiên cho nhà báo chỉ mang máy móc, tăng, võng và đồ dùng cá nhân.
 
Nếu như dòng Ô Lâu hữu trạch bắt nguồn từ những dãy núi thuộc về huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế như núi Mái Nhà, núi Đức mẹ…thì dòng Ô Lâu tả trạch, còn gọi là sông Thác Ma chảy qua địa phận 2 xã Hải Sơn và Hải Chánh lại bắt nguồn từ những dãy núi thuộc về phía Tây Hải Lăng. Đó là những ngọn núi như Ba Lê, còn gọi là Dốc Miếu cao 1001 mét, là dãy Chiêm Dồng cao trung bình từ 500 đến hơn 700 mét so với mực nước biển… Chính khu vực núi non hiểm trở nơi miền Tây Hải Lăng với hàng trăm con suối lớn nhỏ đã miệt mài gom góp từng giọt nước li ti hình thành nên dòng Ô Lâu tả trạch rồi đổ vào dòng Ô Lâu và từ đó chảy mãi về phá Tam Giang.

 
 Trên Cao điểm 367 cùng cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự Hải Lăng và người dân xã Hải Trường

Vòng qua chân cao điểm 367 về phía Nam. Sương giăng kín rừng, dù đang giữa trưa, hành quân trong mưa mà leo dốc đổ mồ hôi. Xuống đến chân Cao điểm 367 về phía Tây đã quá 12 giờ trưa, cả đoàn dừng lại nấu cơm, lấy sức để đi tiếp. Điểm dừng chân còn gọi là hố Máng, nơi đây ngay sau ngày hòa bình người dân từng được chứng kiến trận chiến sinh tử giữa lợn rừng và hổ.
 
Chúng tôi lại tiếp tục đi trong mưa đến bình độ 700 mét so với mực nước biển. Lúc này đã hơn 4 giờ chiều, mây đen kéo về báo hiệu sẽ có mưa lớn. Trưởng đoàn quyết định dựng trại, phân công người lấy củi, lấy nước. Không khí nghiêm túc và khẩn trương chẳng khác gì cuộc sống người lính trong chiến tranh. Điểm hạ trại được chọn là “yên ngựa” giữa 2 quả đồi để tránh vắt và muỗi. Lần tìm theo 2 con suối nhưng đã cạn dòng, không có nước. Đành lấy nước mưa đọng lại từ hố pháo để nấu ăn. Đêm xuống thật nhanh, đêm dài không ngủ!
 
Hôm sau chúng tôi tiến dần lên đỉnh đồi nước mắm. Người đi rừng gọi là đồi nước mắm vì sau chiến tranh tình cờ tìm thấy 1 thùng  nước mắm trăm lít của bộ đội còn để lại. Len lỏi giữa rừng, men theo suối cạn, chúng tôi bắt gặp nhiều mỏm đồi còn nguyên hầm hào, công sự trong chiến tranh …Vẫn còn đó những di vật vốn đã là hành trang cuộc đời của người lính. Anh bộ đội mân mê chiếc dép trên tay mặt nhìn xa xăm, miệng thì thầm một mình “cỡ chân con gái đây mà!”.
 
Không biết chính xác bao nhiêu người lính trẻ đã nằm lại dọc tuyến đường từ khe Ba Lá lên đỉnh Dốc Miếu – tức Cao điểm 1001 m.  Đây là đường hành quân chiến lược của bộ đội ta từ miền Bắc vượt sông Bến Hải, đi qua Gio Linh, Hướng Hóa từ đó tỏa về vùng đồng bằng Hải Lăng, Triệu Phong - Quảng Trị và Phong Điền, Quảng Điền – Thừa Thiên Huế để đánh Mỹ và cũng là đường rút quân lên miền tây.
 
Trở lại Cao điểm 367, gần nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng những cây gỗ thông tẩm dầu từ nước Mỹ xa xôi đem cắm xuống đất này vẫn còn ứa nhựa, dấu vết chiếc đinh cắm vào thân gỗ như đóng chặt lời nguyền: Chiến tranh là mất mát, đau thương, là người còn sống vẫn đi tìm đồng đội suốt dọc dài đất nước.      
 
MiềnTtây Hải Lăng bao la, quanh năm sương giăng mây phủ vẫn cất giấu trong mình biết bao điều bí ẩn. Những bản làng heo hút của đồng bào miền núi như lời kể của những người đi rừng có lẽ đã chuyển ra Ba Lòng, hoặc đã chuyển về bên kia đỉnh Dốc Miếu. Phía bên kia giờ đây chính là bản làng trù phú đông vui của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô thuộc các xã: Ba Nang, Húc Nghì, Tà Rụt, A Bung. Hiện tại phía bên này rừng núi vẫn hoang vu, cây rừng vẫn chưa kịp hồi sinh do chất hóa học và bom đạn.
 
Đi xuống bình độ khoảng 200 mét so với mực nước biển, chúng tôi tình cờ bắt gặp một nhóm người đi tìm mộ liệt sĩ. Những cánh hoa mang theo tàn úa dần trên cung đường hiểm trở. Dù phải băng rừng vượt suối, nhưng lòng người vẫn sắt son trong từng bước chân, dù biết rằng đi tìm nhau giữa miền xa thẳm.
 
Giữa đỉnh đồi không một ngọn cây, nhóm người đi tìm mộ liệt sỹ lặng lẽ sắp lễ, thắp hương, hướng mặt về bốn phía để cầu khấn. Chủ lễ là anh Nguyễn Văn Hạnh người Hà Nội. Anh vào đây để tìm kiếm phần mộ người anh ruột là liệt sỹ Nguyễn Mạnh Chất thuộc Trung đoàn 36, Sư đoàn 308, hy sinh ngày 4/7/1972. Vì là người Hà Nội nên mâm lễ của anh Hạnh cũng là những đặc sản quen thuộc của xứ đất rồng bay. Nhưng lạ quá, trên mâm lễ có một chiếc khăn tay trông còn khá mới. Anh Hạnh thầm thì như chỉ nói với riêng mình: “Anh trai tôi đi thì có yêu một chị cùng làng. Hiện giờ chị vẫn ở vậy chưa đi lấy chồng. Đây là chiếc khăn trước khi đi và hy sinh thì anh tôi trao tặng cho chị có dòng chữ: Nhớ Mãi - VY 26-7-1966” tiếng anh Hạnh nghẹn ngào: “Tôi đi vào tìm mộ thì chị ấy bảo mang vào để thắp hương cho anh. Chị muốn có cái khăn này để anh tôi tìm đường về với gia đình” Hỏi thêm anh Hạnh thì chúng tôi được biết, cô gái vẫn chờ đợi chàng trai Nguyễn Mạnh Chất suốt  hơn 40 năm qua tên là Lê Thúy Mậu, cô từng là thanh niên xung phong tham gia mở đường Trường Sơn ở Quảng Bình và về sau trở thành cô giáo dạy học.  
 
Rời miền Tây Hải Lăng, chúng tôi xuôi về lại Mỹ Chánh nơi dòng Ô Lâu vẫn thao thiết chảy xuôi. Cuộc sống vẫn lao về phía trước, nhưng cũng có những người như ngược thời gian để tìm đến với nhau trong yêu thương vĩnh cửu.
 
Thắp một tuần nhang, thả xuống một bè hoa và đốt lên một ngọn nến nhỏ, đấy là cái cách mà các cựu chiến binh Sư đoàn 304 và thân nhân liệt sĩ tri ân và trò chuyện với những linh hồn khuất sâu dưới làn nước. Rằng: cuộc sống của chúng tôi chưa bao giờ vắng bóng các anh! Tiếng cầu khấn của Thiếu tướng Bùi Xuân Chủ, một CCB Sư đoàn 304 như lan theo mặt nước rồi quyện vào từng con sóng nhỏ:

 
“Xin nhờ núi, núi hãy thắp vòng tang trắng
Xin nhờ sông, sông hãy lặng lờ trôi
Xin hỏi anh, anh nằm ở nơi đâu
Đồng đội ơi, xin được rước anh về”
 
Mỗi dòng sông hình như đều ẩn chứa trong dòng chảy của mình những câu chuyện bất tận về thi ca và tình yêu, về những buồn vui nhân thế. Không biết có nơi nào như mảnh đất Quảng Trị này, mỗi dòng sông đều đã từng nhuốm đầy máu và nước mắt, đều là mỗi khúc ca bi tráng về sự mất mát hy sinh, về những chiến công như huyền thoại của con người./.
       
                                                                            
 Phan Tân Lâm
 
                  

Thích và chia sẻ bài viết qua

Nhập bình luận của bạn:

Ý kiến bạn đọc ()

Lịch phát sóng truyền hình
Cột phải trên
Cột phải dưới

Thăm dò ý kiến

Bạn xem Truyền hình Quảng Trị bằng phương thức truyền dẫn nào?
Sóng mặt đất (VHF - 6)
Vệ tinh (Vinasat 1)
Truyền hình cáp
Truyền hình Internet (OTT)
Truyền hình IP (MyTv)
Truyền hình di động (MobileTV)
Mạng xã hội