Tin tức

Về với xứ 4 “Kẻ”

Thứ ba, 20/11/2018 - 09:14

Dòng sông Ô Lâu như một dải lụa xanh biếc vắt ngang giữa hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, đã góp phần tạo nên những làng quê trù phú gắn liền với đôi bờ sông nước hữu tình. Dựa theo thế đất của phù sa bồi lắng, thế sông uốn lượn, từ bao đời con người đã quần tụ tạo dựng xóm làng, biến đất lạ hoang vu thành quê hương xứ sở. Cùng với thời gian, lịch sử của vùng đất cứ thế mà dày thêm, cuộc sống của cư dân ngày càng bén rễ vững bền như dòng sông cần mẫn dâng tặng phù sa cho đời không bao giờ vơi cạn.

 
Cánh đồng Kẻ Diên - Hải Thọ

Về với Hải Lăng, tìm về với xứ 4 “Kẻ” , qua mấy lần may mắn được hầu chuyện cùng các cụ cao niên dọc theo dòng Ô Lâu, từ Lương Điền, Hội Kỳ rồi Văn Quỹ, Câu Nhi…chúng tôi được các cụ kể rằng: từ buổi khai sơn lập làng cho đến các đời chúa Nguyễn và sau này là triều Nguyễn, có 4 làng trong vùng thuộc Tổng Câu Hoan và Tổng An Thơ xưa có tên bắt đầu bằng từ “Kẻ”. Đó là Kẻ Diên thuộc xã Hải Thọ, làng Kẻ Lạng thuộc xã Hải Sơn, làng Kẻ Văn thuộc xã Hải Tân, làng Kẻ Vịnh thuộc xã Hải Hòa.
 
Thao thức cùng tên gọi của vùng đất, lần theo con chữ, chúng tôi tìm gặp Nhà giáo ưu tú Trần Đại Vinh, Chủ tịch Hội văn học dân gian tỉnh Thừa Thiên Huế, một người có nhiều năm dày công ngiên cứu về lịch sử và văn hóa ven dòng Ô Lâu. Theo ông, từ “Kẻ” là một từ thuần Việt có nghĩa tương ứng như một làng, và cũng bắt nguồn từ một nghĩa để chỉ con người, về sau từ “ Kẻ” được dùng để chỉ thị một vùng đất, có thể là một  vùng đất rất rộng lớn như Kẻ chợ Thăng Long, như là Kẻ Huế ( xứ Huế) , nhưng cũng có thể dùng để chỉ một làng nào đó, và thường là những làng cổ. Cũng theo ông Vinh, khảo sát cũng cho thấy, các tỉnh phía Bắc có nhiều làng, vùng đất bắt đầu bằng từ “Kẻ” vì vẫn còn bảo tồn dấu vết cổ trong ngôn từ chỉ làng. Đó cũng là tập quán pháp trong cách sử dụng một âm cổ, phù hợp với thanh âm hài hòa chứ không phải tất cả các làng cổ đều bắt đầu bằng từ “Kẻ”.
  
Với Hải Lăng, chợ Kẻ Diên không chỉ là nơi giao thương buôn bán sầm uất của mấy trăm năm trước, mà trở nên nổi tiếng bởi gắn với bài ca dao “rất Quảng Trị”: Con gà kẻ Diên . Cố giáo sư sử học Trần Quốc Vượng cho rằng Con gà kẻ Diên là một trong số những bài ca dao hay nhất của miền Trung.
 
“…Chớ than phận khó ai ơi!
Còn da: lông mọc, còn chồi: nảy cây”

Cuộc sống của người nông dân ngày xưa rất vã cực nhọc, nhất là với điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt của vùng đất Quảng Trị, Thừa Thiên. Nhưng con người nơi đây vẫn khát vọng để vươn lên và chủ động xác định những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống là tất yếu cần phải vượt qua.  
 
 
 
 Chiều về bên dòng O Lâu ở Kẻ  Vinh 1 (Hải Hòa)

Xuôi về phía cuối dòng Ô Lâu, xứ Kẻ Vịnh thuộc xã Hải Hòa được xem là vựa lúa của Hải Lăng với những cánh đồng bát ngát thẳng cánh cò bay. Có lẽ đó cũng là ân tứ của thiên nhiên đã ban tặng để bù đắp cho con người nơi vùng quê thấp trũng.         
 
Ngay cạnh dòng sông là chợ Hải Hòa, chợ thường đông vào buổi sáng. Người dân đôi bờ Ô Lâu từ thượng nguồn đã về tận Hưng Nhơn để góp mặt giao thương, chợ họp  từ mờ sáng đến gần trưa mới tan. Chợ quê bao giờ cũng gắn với đặc sản quê, đó là gạo Ma Lâm vừa thơm vừa dẻo, tôm cá tự nhiên từ các con sông, lại có cả chè xanh từ Mỹ Chánh mang về…
 
Về với “ Xứ 4 kẻ”, ẩn tàng sâu hút trong những thôn xóm yên bình dân dã là những tầng sâu văn hoá riêng biệt. Những rặng tre ken dày bao bọc chở che cho làng xóm, những hàng cau vút cao thắm đượm nghĩa tình, những ngôi từ đường rêu phong mà vẫn uy nghi cùng mưa nắng…Một sự tôn nghiêm toát ra từ nếp ăn ở của con người, từ bản sắc của vùng đất, khiến cho bất cứ ai đến đây lần đầu đều không khỏi ngỡ ngàng. Trải qua bao đổi thay của thế sự, mảnh đất này vẫn giữ được cốt cách, phong tục từ xa xưa truyền lại.

 
Về với Kẻ Văn, chúng tôi được ông Lê Đăng Mành, một người nặng lòng với quê hương xứ sở dẫn đi thăm mấy ngôi mộ cổ của làng. Trên diện tích ước khoảng 1.000m² có 5 ngôi mộ cổ nằm rải rác xen lẫn với những ngôi mộ mới ngày nay. Thoạt nhìn, những ngôi mộ này không có gì đặc biệt, chúng bị chìm lấp trong cỏ và bụi cây lúp xúp lâu ngày không ai để ý. Cùng với thời gian, một lớp đất dày đã lấp dần lên những bờ tường của thành lăng và những nấm mồ, nên hình dáng lăng mộ xưa không còn được rõ nét. Số lăng mộ này khi xây đã dùng vữa vôi trộn với mật mía. Mỗi nấm mồ lại được đắp thành một hình khác nhau, có dáng dấp như một công trình điêu khắc hoàn chỉnh. Bao quanh nấm mồ là tường lăng, cũng được xây bằng cùng thứ vật liệu như mộ. Các trụ cửa được xây theo một phong cách giống nhau, trên mặt trước của lăng số một còn thấy hai bức phù điêu đắp nổi, phần còn lại đã bị chìm lấp dưới đất, nhưng vẫn còn nhận dạng được một hình con lân với nét khắc sâu, dứt khoát mạnh mẽ.

 
 Chiều về bên dòng O Lâu ở Kẻ  Vinh 2 (Hải Hòa)

May mắn là ở một ngôi mộ còn phát hiện được tấm bia bằng sa thạch, tuy bị vỡ mấy chỗ nhưng vẫn còn đọc được chữ và những hoa văn trang trí hình “lưỡng long triều nhật” khá quen thuộc. Theo ông Mành tìm hiểu thì phần mộ còn tấm bia này thuộc về một vị Cai Hợp họ Trần quê ở Quảng Nam, phụ trách quân lương thời chúa Nguyễn.
 
Nhìn lại một số xã theo sách Ô Châu Cận Lục ghi lại như: Văn Quỹ,Vĩnh Hưng, Diên Sanh, thì đã có đầy đủ trong sách, riêng xã Hải Sơn có Chợ Kẻ Lạng thì không có trong Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An, như vậy làng Lương Điền thuộc xã Hải Sơn, được thành lập từ thế kỷ nào?

Theo giải thích của Nhà giáo ưu tú Trần Đại Vinh, “Lương Điền trước có tên là Kẻ Lạng ban đầu có tên làng là Lạng Phước, trong đó chữ “Phước” (còn  đọc là “Phúc”)  đồng âm với tên Hồ Phy Phúc, là thân phụ của Nguyễn Huệ vì vậy từ thời Tây Sơn chữ “Phúc” không được dùng nữa nên Lạng Phước đã được đổi thành Lương Điền như ngày nay.

Với lịch sử ngót hơn 500 năm. Tổ tiên ngày trước của cư dân Lương Điền có quê gốc ở Lạng Phước, Tống Sơn , Thanh Hóa. Năm Đinh Tỵ, tức vào năm 1497, theo lời phủ dụ của vua Lê Thánh Tông, các ngài Nguyễn Văn Tước, Nguyễn Đình Khoan, Lê văn Đạo và một số gia nhân, đinh tráng tự nguyện xuôi nam lập nghiệp, quy tụ được 7 dòng họ: Nguyễn Văn, Lê Văn, Trương Công, Đoàn Như, Nguyễn Khắc, Nguyễn Hữu, Nguyễn Tôn. Đình làng chính là nơi hội họp, bàn các công việc chung trong làng và vẫn được giữ gìn, tôn tạo cho đến nay.

 
Nhà giáo ưu tú Trần Đại Vinh
 
Đất lành chim đậu, sau hơn 500 năm kể từ ngày tiền nhân đi mở đất, đến nay Lương Điền là nơi quy tụ của 18 dòng họ, hầu như dòng họ nào cũng có từ đường khang trang để thờ cúng ông bà tổ tiên. Trong đó có những ngôi từ đường đã mấy trăm tuổi với lối kiến trúc mang đậm dấu ấn của vùng đồng bằng bắc bộ. 

Về Lương Điền chúng tôi còn được nghe các vị cao niên kể mãi câu chuyện về cây phong lưu được trồng trước đình làng do ông Thị Khư, một vị quan người Việt làm việc cho Pháp trên đất lào nên đã mang giống cây xứ Triệu voi về trồng trước đình làng. Sở dĩ có tên gọi là cây Phong Lưu vì loài cây này khoảng 5 giờ chiều đã khép lá đi ngủ và đến tận 8 giờ sáng ngày hôm sau mới mở lá thấc giấc. Phải chăng ông Thị Khư, một người nặng lòng với quê hương trồng cây với mong ước sao cho người dân Lương Điền cũng sẽ có được cuộc sống như cây phong lưu, vừa nhàn hạ, lại vừa no ấm! 
 

Ở làng Lương Điền có chợ Lạng nay vẫn còn lưu dấu cùng thời gian. Theo cụ Lê Văn Phơ một cao niên của Lương Điền, chợ Lạng thường họp vào buổi chiều nên còn gọi là chợ Hôm Lạng. Sản vật có tiếng từ ngày xưa của chợ là chột nưa đã lưu dấu trong câu ca của dân trong vùng: Nhất thuốc Phù Lai, nhì khoai Tân Trường, ba nưa Kẻ Lạng, bốn sắn càng Câu Nhi. 
 
Chợ Hôm Lạng nay không còn nữa nhưng vẫn còn đó con đường hạ quan ngang qua nền chợ cũ và câu chuyện tình giữa chàng thư sinh xứ Nghệ với cô lái đò trên dòng Ô Lâu nhân một chuyến chàng “qua sông luỵ đò” để vào Kinh ứng thí.
 
“Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa Bến Cộ con đò khác đưa
Cây đa Bến Cộ còn lưa
Con đò đã thác năm xưa tê rồi…”
 
Về với Hải Lăng, những Kẻ Diên, Kẻ Lạng, Kẻ Vịnh, Kẻ Văn nghe như vừa gần mà lại vừa xa, gần gủi vì con người có nếp sống giản dị, thuần hậu, mến khách, nhưng xa vì chiều sâu văn hóa thẳm sâu từ câu chuyện kể của mỗi dòng họ, mỗi công trình kiến trúc. Về xứ 4 “Kẻ” chúng tôi có cảm nhận đây cũng là những làng quê  của Quảng Trị vẫn còn bảo tồn được nhiều giá trị văn hóa, người dân nơi đây từ bao đời nay luôn tôn trọng sự học, giữ được nét phong hóa quê nhà./.


Phan Tân Lâm 

Thích và chia sẻ bài viết qua

Nhập bình luận của bạn:

Ý kiến bạn đọc ()

Lịch phát sóng truyền hình
Cột phải trên
Cột phải dưới

Thăm dò ý kiến

Bạn xem Truyền hình Quảng Trị bằng phương thức truyền dẫn nào?
Sóng mặt đất (VHF - 6)
Vệ tinh (Vinasat 1)
Truyền hình cáp
Truyền hình Internet (OTT)
Truyền hình IP (MyTv)
Truyền hình di động (MobileTV)
Mạng xã hội