Tin tức

Vĩnh Ô ký sự

Thứ năm, 06/12/2018 - 08:54

Trên dặm dài thiên lý Bắc- Nam, cầu Hiền Lương, sông Bến Hải là nổi niềm khôn nguôi về một thời đất nước bị chia cắt. Bao nhiêu phận người phải lưu lạc, chia ly vì chiến tranh…Giờ đây, mỗi khi có dịp đến với Hiền Lương, lặng nhìn những đoàn xe hối hả nối nhau xuôi Nam, ngược Bắc mà lòng cứ bâng khuâng nhớ thương về những tháng ngày xưa cũ.

 
 
Phần mộ liệt sỹ Trương Văn Cường được tìm thấy tại Động Mang, Vĩnh Ô

Như để an ủi, vỗ về cho những mất mát thương đau, dòng sông vẫn ngày đêm miệt mài tích tụ phù sa để bồi đắp cho bờ bãi ruộng đồng, cho cây nở hoa, cho cuộc sống lại hồi sinh…Những mong biết được đâu là cội nguồn của dòng sông; Những ước làm sao được như dòng nước kia để viễn du cùng tháng rộng ngày dài, chúng tôi đã ngược lên miền tây Vĩnh Linh để tìm về với đầu nguồn con nước, đó chính là Vĩnh Ô,  quê hương của đồng bào Vân Kiều giữa điệp trùng núi non, là nơi khởi nguồn của dòng Bến Hải.  

Có nhiều con đường để đến thị trấn Bến Quan, xưa kia gọi là ngã Tư Đất, là cửa ngõ để dẫn vào xã miền núi Vĩnh Ô của huyện Vĩnh Linh. Nhưng từ thị trấn Bến Quan đi qua địa bàn xã Vĩnh Hà để rồi ngược lên Vĩnh Ô thì chỉ có duy nhất một con đường núi quanh co và hiểm trở.

Trước đây khi chưa có đường, mỗi chuyến cả đi lẫn về thường phải mất trọn 2 ngày và chủ yếu là đi bộ. Ngày ấy, chỉ những lúc thật cần thiết, chẳng hạn như gặp trường hợp có người ốm đau hoặc cần trao đổi hàng hóa để dự trữ cho mùa mưa thì người Vân kiều ở Vĩnh Ô mới tập hợp nhau cùng băng rừng vượt suối để về Bến Quan và thị trấn Hồ Xá.

Giờ đây nhờ có con đường nhựa nên chuyện đi lại không còn vất vã như xưa. Đồng bào Vân kiều ở Vĩnh Ô gọi tuyến đường  Vĩnh Ô – thị trấn Bến Quan nối với đường Hồ Chí Minh là đường Hạnh Phúc.


 
 Chị Hồ Thị Chin thông thưởng của bản Tám, Vĩnh ô

Vĩnh Ô là quê hương của đồng bào Vân kiều nơi thượng nguồn dòng Bến Hải, toàn xã có 8 thôn, dân số 272 hộ gia đình nhưng diện tích tự nhiên lên tới 8500 ha. Đây là vùng đất từng rất giàu có về tài nguyên rừng và có truyền thống cách mạng. Trong những năm chiến tranh, đất và người Vĩnh Ô là nơi đã che chở, cưu mang cho nhiều gia đình đồng bào từ huyện Cam lộ, Gio Linh đi tránh bom, tránh đạn…Đặc biệt Vĩnh Ô với bạt ngàn đồi núi phủ kín cây rừng và hệ thống khe suối hiểm trở còn là hậu cứ của các đơn vị bộ đội chủ lực trước lúc vượt sông Bến Hải để vào chiến trường miền Nam đánh giặc.

Lại kể về câu chuyện những người lính trẻ ra đi nhưng không trở về, những người lính đã từng ghé lại Vĩnh Ô, từng gặp các ông bố bà mẹ Vân kiều trước lúc hành quân băng rừng vào mặt trận Bắc đường 9 - Quảng Trị, chúng tôi đã có dịp theo chân một số cán bộ chiến sỹ của Ban Chỉ huy Quân sự huyện Vĩnh Linh đi tìm đồng đội nơi đầu nguồn dòng Bến Hải, đó là chuyến đi thật nhiều kỷ niệm diễn ra cuối năm 2013.

Trong lúc vào rừng, anh Hồ Văn Hải tình cờ thấy có 2 tấm bia mộ  ở khu vực động Mang, nhận được tin báo là chúng tôi liền vội vã lên đường. Vượt dòng Bến Hải ngay tại bản Thúc, rồi ngược theo khe Thúc đi qua 5 cây cầu khỉ để hướng về Nam. Xuất phát từ lúc gần 8 giờ sáng, mãi đến 12 giờ trưa chúng tôi mới đặt chân đến động Mang. Từ động Mang hướng tầm mắt nhìn về phía Nam là cao điểm 425- núi Cây Tre, nhìn về phía Tây là động Kiu cao 444 mét và nhìn về phía Tây- Nam là động Voi Mẹp, động Pa Thiên lúc ẩn lúc hiện trong sương và xa hơn nữa động Tri sát với sân bay Tà Cơn- Khe Sanh đã trở nên nổi tiếng thế giới từ năm 1968….Khu rừng nơi 2 liệt sỹ đã yên nghỉ suốt 45 năm qua thường rất hiếm người qua lại, chỉ có những người đi rừng hái  thuốc nam, hoặc đi săn thú mới có dịp qua nơi đây. 
 
Hai tấm bia đá cách nhau khoảng  3 mét và nằm về phía cuối con dốc. Tấm bia nằm ngay trên lối đi đã  bị vỡ thành nhiều mãnh nhưng nét chữ hãy còn rất rõ, khi ghép lại thì vẫn đọc được đầy đủ thông tin: “ Nguyễn Phùng Hưng – Tuổi 22- Ngư Thuỷ- lệ Thuỷ- Quảng  Bình”;  tấm bia còn nét chữ hơi mờ nhưng chân bia vẫn cắm sâu xuống lòng đất với những dòng chữ “Trương Văn Cường -  Hy sinh 14/5/1968, tuổi 20, Yên Thịnh, Yên Định Thanh Hoá” Tay mân mê từng nét chữ trên mặt đá, Thượng tá Nguyễn Ngọc Dương, Chính trị viên Ban Chỉ huy Quân sự huyện Vĩnh Linh thì nói: “ Chúng tôi đã nhiều lần đi tìm đồng đội, nhưng trường hợp có được đầy đủ thông tin như hai liệt sỹ Nguyễn Phùng Hưng và Trương Văn Cường thật hiếm gặp”.  

Ngoài những thông tin về họ tên, quê quán, ngày tháng hy sinh của liệt sỹ,  những người lính ngày ấy, khi khắc hai tấm bia có lẽ vì quá thương yêu đồng đội của mình đã ngã xuống khi tuổi đời hãy còn quá trẻ nên mới khắc lên đá núi dòng chữ “ Tuổi 20” “Tuổi 22”,  để rồi sau gần nửa thế kỷ chúng tôi đã tình cờ bắt gặp, tình cờ tìm thấy các anh giữa đại ngàn thì các anh vẫn còn mãi là 20 tuổi, là 22 tuổi, vẫn trẻ mãi như màu xanh của núi rừng Trường Sơn đã chở che cho các anh suốt mấy chục năm qua.
 
Trở lại với Vĩnh Ô Lần này, chúng tôi đã làm một cuộc hành trình ngược dòng Bến Hải để ghé thăm lại bản 8, tên gọi cũ là bản Mít. Nằm ngay cạnh bờ sông, bản 8 là bản xa nhất của xã Vĩnh Ô.  Chúng tôi đi theo con đường khai thác gỗ đã được mở từ sau ngày đất nước hòa bình, đường chạy song song và có nhiều đoạn giao nhau với dòng sông, người dân Vĩnh Ô hầu hết đều sống bám theo trục đường vừa để thuận tiện đi lại vừa gần với dòng sông để có nước sinh hoạt và làm ruộng. 

So với trước, cuộc sống của đồng bào Vân kiều ở Vĩnh Ô hôm nay đã có nhiều thay đổi, nhiều gia đình đã biết trồng rừng để bán, biết thâm canh cây lúa nước, biết chăn nuôi gia súc gia cầm và chắt chiu dành dụm để dựng được nhà cửa khang trang.  Thi thoảng chúng tôi lại ghé lại nhà dân ở bên đường để hỏi thăm về tình hình đời sống. Nhưng rồi câu chuyện mà bà con muốn chia sẻ vẫn là chuyện giữ rừng, giữ nguồn nước.

Hơn 4 giờ đồng hồ đi bộ, bạn đồng hành của chúng tôi từ bản 2 đến bản 6 là 2 mẹ con chị Hồ Thị Anh nhà ở bản 6. Buổi sáng chị Anh đưa con trai 10 tuổi ra bản 2 - Trung tâm xã Vĩnh Ô để bán 5 cân gừng, mỗi cân được 40 nghìn đồng và tranh thủ mua một ít thực phẩm, sách vỡ cho con. Bản 6 của chị Anh, chị Táo nằm về bên kia sông Bến Hải về phía bắc, còn bản 5 ở bên này sông về phía nam, hai bản cách nhau chỉ chưa đầy 100 mét vậy mà cuộc sống khác nhau thật nhiều. Trong khi ở bản 5 người dân đã có điện thắp sáng, xem ti vi, thì ở bản 6 cho đến bản 8 vẫn còn đèn dầu tù mù, cuộc sống vì thế càng thêm lạc hậu.

Bản 8 với dân số 36 hộ, 156 nhân khẩu. Đồng bào canh tác trên những thửa ruộng thiếu nước, vẫn chưa quen dùng phân chuồng để bón cho cây trồng, vì thế cây lúa chỉ cao quá đầu gối và năng suất rất thấp. Chị Hồ Thị Chin trưởng bản tâm sự : “Dù khó khăn nhưng bà con chúng tôi cũng đành chấp nhận vì đây chính là đất đai do các thế hệ ông cha đã khai phá để lập bản” 

Sống ở bản 8, nhu cầu trao đổi hàng hóa của bà con chủ yếu chỉ trông chờ vào những người mua bán hàng gánh. Vì vậy mỗi khi có người gánh hàng xuất hiện đều thu hút sự quan tâm của chị em phụ nữ và trẻ con.

Đổi thay đáng kể ở bản 8 bây giờ là nhà cửa của bà con có phần ngăn nắp hơn, trẻ con thay vì phải học trong nhà tạm không đủ kín để che mưa che nắng thì nay đã có phòng học mới sạch sẽ và vững chải hơn.

Từ bản 8 quay lại bản 2 để trở về xuôi, chúng tôi may mắn đã gặp được xe của những người lính Đội 584 Quảng Trị vừa kết thúc một chuyến đi tìm liệt sỹ từ bản Cuôi của xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa trở về. Những người lính các anh đang miệt mài thầm lặng đi tìm đồng đội giữa điệp trùng núi non.   

Vĩnh Ô – Vùng đất rất giàu về tiềm năng để phát triển kinh tế, đặc biệt rừng Vĩnh Ô có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nguồn nước của dòng Bến Hải. Song có lẽ người Vân Kiều ở Vĩnh Ô hầu như đã quen với cuộc sống vất vã cần lao. Mỗi khi chiều về, người lớn, trẻ nhỏ lại hòa mình cùng dòng sông mà chẳng cần phải băn khoăn tự hỏi: Sông chảy về đâu, nước đổ về đâu? Nhưng với chúng tôi, mỗi khi có dịp đứng trước mỗi dòng sông, lòng cứ bang khuâng nhớ về những mùa hoa cải, nhớ bến vắng trong chiều và nhớ mãi những người lính trẻ ra đi không về để dòng nước kia còn giữ được trong xanh và để cho những dòng sông vẫn muôn đời chảy mãi./.
                                                                                                            

  Phan Tân Lâm

 

Thích và chia sẻ bài viết qua

Nhập bình luận của bạn:

Ý kiến bạn đọc ()

Lịch phát sóng truyền hình
Cột phải trên
Cột phải dưới

Thăm dò ý kiến

Bạn xem Truyền hình Quảng Trị bằng phương thức truyền dẫn nào?
Sóng mặt đất (VHF - 6)
Vệ tinh (Vinasat 1)
Truyền hình cáp
Truyền hình Internet (OTT)
Truyền hình IP (MyTv)
Truyền hình di động (MobileTV)
Mạng xã hội