Tin tức

Nhật ký đi tìm địa đạo Hà Đông

Thứ bảy, 15/12/2018 - 08:18

Miền Tây Hải Lăng, phía Bắc là sông Thạch Hãn, phía Nam giáp huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây giáp huyện Đakrông là khu vực rừng núi rộng lớn, từng là bản làng của đồng bào Vân Kiều. Đây cũng chính là căn cứ cách mạng trong chiến tranh chống Pháp, là chiến trường ác liệt trong suốt gần 20 chiến tranh chống Mỹ. Từ thư đề nghị của các Cựu chiến binh Trung đoàn 812, Sư đoàn 324, Quân khu 4 đã đồng ý khảo sát vị trí địa đạo Hà Đông, Bệnh viện Hà Đông giữa vùng rừng núi Thừa Thiên - Huế và Quảng Trị để tìm kiếm những phần mộ liệt sỹ. Và chúng tôi may mắn đã có dịp được đồng hành cùng những người lính của Ban Chỉ huy Huyện đội Hải Lăng.

Ngày thứ nhất:
Áp thấp nhiệt đới. 12 người trong đoàn, gồm cán bộ Ban Chỉ quy Quân sự huyện, 2 cán bộ xã đội và 2 người dân Hải Trường và Hải Sơn và tôi, Phóng viên Đài PTTH Quảng Trị. Thời gian dự kiến cả chuyến đi là 7 ngày. Với kinh nghiệm đi rừng của mình, nhiều người rất ngại trong một hai hôm nữa dễ có lũ rừng. Nhưng tự lòng mình đã hứa với vong linh các liệt sĩ còn nằm lại khu vực địa đạo Hà Đông, và dọc con đường hành quân qua dốc Miếu 1001 mét và khao khát được khám phá miền Tây Hải Lăng... nên dù mưa gió tất cả vẫn  quyết tâm lên đường.


 
Dưới chân cao điểm 367

Vốn là tuyến đường nhựa do Mỹ làm từ khoảng thời gian trước Tết Mậu Thân 1968 để xe tăng và phương tiện cơ giới đi từ quốc lộ 1A lên căn cứ Mắc Namara, tức là Cao điểm 367 mét so với  mực nước biển. Sau ngày hòa bình, con đường này trở thành đường dân sinh để người dân các xã: Hải Trường, Hải Sơn, Hải Lâm…lên khai phá miền Tây Hải Lăng. Do không được duy tu sửa chữa nên sau mấy chục năm con đường đã bị hư hỏng, việc đi lại vào mùa mưa hết sức khó khăn. Cách chân Cao điểm 367 gần một cây số, chiếc xe 2 cầu chuyên dùng để chở gỗ rừng trồng không còn đi được nữa. Mọi người đành chia nhau đồ đạc, mỗi người phải mang vác gần 3 chục cân, ưu tiên cho phóng viên chỉ mang máy móc, tăng, võng và đồ dùng cá nhân.

Vòng qua chân Cao điểm 367 về phía Nam. Sương giăng kín rừng, dù đang giữa trưa. Hành quân trong mưa mà leo dốc đổ mồ hôi. Xuống đến chân Cao điểm 367 về phía Tây đã quá 12 giờ trưa, cả đoàn tranh thủ nấu cơm mới đủ ức để đi tiếp. Điểm dừng chân còn gọi là hố Máng, nơi đây ngay sau ngày hòa bình người dân từng được chứng kiến trận chiến sinh tử giữa lợn rừng và hổ.
 
Chúng tôi lại tiếp tục đi trong mưa trên ngọn núi cây bụi lúp xúp có bình độ 700 mét và kéo dài cả cây số. Hơn 4 giờ chiều, mây đen kéo về báo hiệu sẽ có mưa lớn. Trưởng đoàn quyết định phân công người dựng trại, lấy củi, lấy nước. Không khí nghiêm túc và khẩn trương chẳng khác gì cuộc sống người lính trong chiến tranh. Điểm hạ trại được chọn là “yên ngựa” giữa 2 quả đồi không tên để tránh vắt và muỗi. Lần tìm theo 2 con suối nhưng chỉ là suối cạn nên không có nước. Đành lấy nước mưa đọng lại từ hố pháo để nấu ăn. Đêm xuống thật nhanh, đêm dài không ngủ.

Hôm sau chúng tôi tiến dần lên đỉnh đồi “Nước mắm”. Gọi là đồi nước mắm là do sau chiến tranh những người đi rừng tình cờ tìm thấy một  thùng bằng nhôm chứa nước mắm cả trăm lít của bộ đội còn để lại. Vẫn còn đó dấu vết của năm  điểm chốt với hầm hào, công sự của người lính.
 
Trên đỉnh núi Đầu bò


Không biết chính xác bao nhiêu người lính trẻ đã nằm lại dọc tuyến  đường từ khe Ba Lá lên đỉnh dốc Miếu – tức Cao điểm 1001 m.  Đây là đường hành quân chiến lược của bộ đội ta từ miền Bắc, đi qua Vĩnh Linh vượt sông Bến Hải, đi qua Gio Linh, Hướng Hóa từ đó tỏa về vùng đồng bằng Hải Lăng, Triệu Phong - Quảng Trị và Phong Điền, Quảng Điền – Thừa Thiên Huế để đánh Mỹ, để nhận lương thực cũng như là đường rút quân ngược lên miền tây.

Ngày thứ hai:

Vượt qua không biết bao nhiêu ngọn đồi, nhiều lúc phải ngồi đợi sương tan để xác định hướng đi, hơn 12 giờ trưa, cả đoàn mới lên đến “yên ngựa” của dãy núi “Đầu bò”. Gọi là núi Đầu bò vì trong chiến tranh bộ đội nhìn thấy 1 cái đầu con bò tót. Cách đặt tên từng con suối, ngọn đồi, từng cánh rừng thật giản dị và tình cờ, được truyền từ người này sang người khác và cứ gọi lâu ngày thành quen.

Ngày thứ ba:

Vẫn không tìm thấy phần mộ liệt sỹ, không thấy dấu tích về cuộc sống của đồng bào miền núi. Ngày thứ ba, mọi người men theo triền đồi dưới chân Đồi Nước mắm để tìm kiếm. Liên tục đào những nơi có thể đã mai táng liệt sỹ, nhất là tại các bãi đất bằng…..Đến gần cuối ngày mới tìm thấy dấu tích hầm hào, công sự, bếp Hoàng Cầm và 4 huyệt mộ được đào sẵn.


 
Trên đỉnh núi Đầu bò

Theo ông Lê Văn Hoan,nguyên Bí thư huyện Hải Lăng thời chống Mỹ, nói về Bệnh viện Hà Đông là nói đến cả một khu vực khá rộng ở miền Tây Hải lăng, giáp Phong Điền - Thừa Thiên Huế. Địa đạo Hà Đông không lớn, nguyên là đại bản doanh của Mặt trận 7 Quảng Trị thuộc Quân khu Trị Thiên. Bệnh viện Hà Đông không tập trung một địa điểm, mà được phân ra nhiều quả đồi, và cũng nhiều lần thay đổi địa điểm vì bị địch đánh phá. Ông Hoan nhớ rõ nhất là khoảng thời gian sau Mậu Thân 1968, ngoài số bộ đội hy sinh vì bị bom, pháo, vì trực tiếp đánh nhau với Mỹ, số khác hy sinh vì thiếu đói, nhất là sau Mậu Thân. Giữa năm 1968, trên đường lui quân nếu ai đủ sức vượt qua dốc Miếu thì sống, nếu không thì đành nằm lại dọc đường.


Ngày thứ tư:

Chúng tôi có thử tìm Cao điểm 1001 m, tìm con đường mà nhiều người lính không may đã nằm lại. Nhưng vẫn không thể xác định được đâu là đỉnh Ba Lê. Cả một vùng núi non chìm khuất trong sương trắng.

Trưởng đoàn quyết định hướng lên dãy Chiêm Dồng, ranh giới giữa Thừa Thiên và Quảng Trị, để tìm vị trí địa đạo Hà Đông. Len lỏi giữa rừng giang, men theo từng con suối cạn, chúng tôi bắt gặp nhiều mỏm đồi còn nguyên hầm hào, công sự trong chiến tranh …

 
Cắm trại trên đỉnh đồi Gấu



Ngày thứ năm:

Việc xác định địa đạo Hà Đông quả thực vẫn hết sức khó khăn. Lương thực cạn dần, cả đoàn đành lui quân và hẹn sẽ quyết tâm trở lại vào một dịp khác.

Miền Tây Hải Lăng bao la, quanh năm sương giăng mây phủ vẫn cất giấu trong mình biết bao điều bí ẩn. Những bản làng vài nóc nhà của đồng bào miền núi như câu chuyện kể của những người đi rừng có lẽ đã chuyển ra Ba Lòng, hoặc đã chuyển về bên kia đỉnh dốc Miếu. Phía bên kia giờ đây chính là bản làng trù phú đông vui của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô thuộc các xã Ba Nang, Húc Nghì, Tà Rụt, A Bung. Hiện tại phía bên này rừng núi vẫn hoang vu. Những người lính năm xưa đã anh dũng ngã xuống trong chiến tranh giờ đây đã hóa thân vào cây rừng, hòa trong đồi núi. Sự hy sinh ấy là để cho quê hương, xứ sở được bình yên ./. 

Phan Tân Lâm

Thích và chia sẻ bài viết qua

Nhập bình luận của bạn:

Ý kiến bạn đọc ()

Lịch phát sóng truyền hình
Cột phải trên
Cột phải dưới

Thăm dò ý kiến

Bạn xem Truyền hình Quảng Trị bằng phương thức truyền dẫn nào?
Sóng mặt đất (VHF - 6)
Vệ tinh (Vinasat 1)
Truyền hình cáp
Truyền hình Internet (OTT)
Truyền hình IP (MyTv)
Truyền hình di động (MobileTV)
Mạng xã hội