Tin tức

“Càng” mùa nước nổi

Thứ bảy, 05/01/2019 - 11:13

Địa hình và thổ nhưỡng của huyện Hải Lăng khá đa dạng, ngoài vùng đồi núi ở phía tây, vùng gò cát ở phía đông thì diện tích rộng nhất có lẽ vẫn là cách đồng chiêm trũng thuộc vùng hạ lưu hai con sông Ô Lâu và Ô Giang. Đây là vùng đất thấp hơn so với mặt nước biển từ 0,30m đến 1m, vốn gắn với cuộc sống con người ở những xóm nhỏ gọi là “Càng”

Vùng Càng mùa lũ mênh mông nước

Cách đây khoảng hơn 500 năm về trước, những tiền nhân đi mở đất, sau khi lập làng dọc theo dòng Ô Lâu đã dần tiến về phía đông. Trong quá trình khai khẩn đất đai người xưa đã lập nên 7 xóm “Càng” lớn nhỏ. Vì thế một số “Càng” có tên gọi trùng tên với của một làng ở trong vùng, ví như có càng An Thơ thì cũng có làng An Thơ thuộc xã Hải Hòa, càng Mỹ Chánh thì có làng Mỹ Chánh của xã Hải Chánh, càng Trung Đơn thì có làng Trung Đơn của xã Hải Thành…
 
Vị trí của mỗi Càng thường cách xa làng ít nhất khoảng 5 cây số. Trong số đó xa nhất là càng Mỹ Chánh cách làng Mỹ Chánh chừng hơn 6 cây số đường chim bay và đẹp nhất là càng Cây Đa gắn liền với nhà thờ Cây Da thuộc xã Hải Thọ. Nằm soi mình bên dòng Ô Giang, mỗi khi chiều về bên kia cầu Cây Da lại vang vọng tiếng chuông từ đỉnh tháp nhà thờ như nguyện cầu cho nơi đây vẫn giữ mãi nét đẹp hồn hậu, yên bình của một miền quê sông nước.
 
Chúng tôi về với vùng càng của Hải Lăng đúng vào dịp đầu Đông. Gió từ phía biển thổi suốt ngày đêm. Đứng trên cầy cây đa bắc qua dòng Ô Giang rồi nhìn ra bốn phía, xa mờ là những chiếc thuyền chài nhỏ bé chơi vơi lúc ẩn lúc hiện. Chợt nghĩ cảnh sắc và cuộc sống con người nơi đây có lẽ chẳng khác gì nhiều so với đồng bằng sông Cửu Long xứ Nam Bộ vào mùa nước nổi! 
 
Với cư dân ở xóm Càng, mùa mưa cũng là mùa nước nổi thường bắt đầu từ tháng Bảy và kéo dài đến tháng Mười Một. Vào mùa mưa, cả cánh đồng thẳng cánh cò bay là cả một biển nước bao la tưởng chừng như không bờ không bến. Giữa khung cảnh đất trời mênh mang ấy, trong làn hơi nước mờ đục, thấp thoáng những ốc đảo cứ như đang thả mình bềnh bồng, nhấp nhô theo từng cơn sóng.  
 
Điểm dừng chân của chúng tôi trong hành trình khám phá cuộc sống của bà con xóm Càng vào đầu mùa nước nổi là càng Hội Điền. Càng Hội Điền có 37 nóc nhà, dân cư từ bao đời sống dựa vào ruộng đồng và phù sa sông nước. Ngoài nghề nông mà chủ yếu là cây lúa, người dân nơi đây còn có thêm nghề chăn  vịt và đánh bắt cá vào mùa lũ.
 
Chỉ mất chừng hơn 30 phút chúng tôi đã có thể đi hết một vòng bao quát hết toàn bộ càng Hội Điền. Vì bốn phía đều là biển nước nên trẻ con chỉ còn biết quẩn quanh trước sân nhà. Cuộc sống ở Càng, ngoài những lo toan về chuyện cơm áo, chuyện học hành của con trẻ, thì công việc xây dựng nhà cửa để chống chọi với mưa lũ là hết sức quan trọng của cả một đời người.

 
 Một lớp học của trẻ em ở Càng Hội Điền

Về Càng mới biết, thì ra có những con thuyền khai thác cát sạn từ thường nguồn dòng Thác Ma đã xuôi về Càng để cung cấp cho người dân. Hầu hết các gia đình sau khi mua cát, sạn đều tự tay sản xuất vật liệu xây dựng để giảm bớt chí phí. Chắt chiu dành dụm từ năm này sang năm khác, thậm chí phải vay mượn từ người thân, từ ngân hàng, mọi người vẫn cố sức làm nhà để không chỉ chống chọi với mưa lũ và đối phó với rắn rết, công trùng vào mùa nước nổi.
 
Vùng càng từ đời này sang đời khác, nhà nào cũng sở hữu một vài con đò nhỏ và một bến nước nép mình bên rặng tre rồi dẫn ra cánh đồng. Khoảng hơn 4 giờ chiều là lúc bà con tranh thủ giăng câu thả lưới. Công việc tuy không quá vất vã nhưng mỗi chiếc đò thường phải có hai người, một người chèo chống để người còn lại sẽ buông lưới. Nhưng đôi khi mỗi chiếc đò chỉ có một người vừa chèo chống lại vừa buông lưới. Những lúc như vậy người ta thường đưa con đò ngược hướng gió rồi để mặc con đò xuôi theo dòng nước còn mình cứ nương theo gió mà buông lưới. 
 
Lênh đênh thử làm ngư phủ trên đồng nước, chúng tôi tình cờ gặp vợ chồng anh Anh Lê Văn Cường ở càng Mỹ Chánh. Anh Cường cho hay: từ ngày lập gia đình đến nay, cứ vào mùa nước nổi là vợ chồng anh lại chuyển từ công việc làm ruộng sang làm nghề chài lưới. Sau khi buông lưới vào chiều hôm trước, sáng hôm sau hai người sẽ quay lại để thu lưới. Công việc không đến nổi vất vã, cực nhọc, thu nhập tuy không nhiều nhưng bù lại khá đối ổn định, trung bình được khoảng hai trăm nghìn cho mỗi ngày.
 
Tuy cùng mục đích đánh bắt cá để mưa sinh nhưng người dân mỗi nơi lại có cách đánh bắt khác nhau. Nếu như vợ chồng anh Cường và người dân ở vùng Càng nói chung chỉ tập trung thả lưới qua đêm, thì người dân ở khu vực Vân Trình thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế lại đi thành nhóm gọi là “bạn”, mỗi bạn có từ 5 đến 10 đò. Sau khi buông lưới cả bạn sẽ dàn đò thành hàng ngang và bắt đầu gõ mạn thuyền đuổi cá, tiếng gõ lốc cốc vọng xa đến hàng cây số.

Giữa đồng nước, từ xa chúng tôi còn nhìn thấy một đàn cò. Nhưng khi đến gần chỉ có 1 chú cò thật, còn lại chỉ là những chú cò giả. Thật tội nghiệp cho chú cò thật bị buộc chân làm con mồi để lừa đồng loại. Nghề bẫy chim trời ở vùng Càng trong mùa nước nổi đã có từ lâu. Người ta làm ra vô số những con diệc và cò giả bằng gỗ rồi sơn màu trắng để trông giống y như thật, sau đó mang ra cánh đồng và bao giờ cũng kèm theo một con chim thật để đánh lừa lũ chim trời. Lũ chim trời vì cứ nhầm tưởng phía dưới kia là đồng loại vội vã sà xuống thế là vướng vào bẫy. Trong thế giới tự nhiên, suy cho cùng điều đó đâu chỉ xảy ra với lũ chim trời.  

 
  Đánh bắt cá vào mùa nước nổi ở vùng Càng


Màn đêm ở Càng buông xuống thật nhanh, ngoài kia tiếng côn trùng réo rắt, tiếng nước lao xao và và tiếng xạc xào của  những ngọn gió trên ngọn tre... Chúng tôi càng thấm thía kinh nghiệm của ông cha rằng: “Trời nắng mau trưa, trời mưa mau tối”, “Ngày tháng mười chưa cười đã tối”. May nhờ có ánh điện hắt ra từ những ngôi nhà mà Hội Điền về đêm đã vơi bớt đi phần nổi hiu hắt của một ốc đảo.
 
5 giờ 30 sáng, cư dân vùng Càng đã gọi nhau í ới, trong khi lũ trẻ vội vã đến trường bằng xe đạp thì người dân bắt đầu đi thu lưới đã giăng từ suốt đêm. Cá đồng mùa lũ , con to được người dân bán cho các thương lái hoặc chế biến thành các món ăn cho bữa cơm gia đình, con nhỏ thì giữ lại để làm mắm, hoặc cho vịt ăn.
 
Công việc chính vào mùa nước nổi ở Càng là thả lưới bắt cá, bắt tôm, vì thế câu chuyện cũng chỉ xoay quanh chuyện com tôm con cá. Cá, tôm ở Càng tươi ngon nổi tiếng, đánh bắt được  bao nhiêu đều bán hết bấy nhiêu. Chị Huỳnh Thị Lanh ở Càng Hội điền cho biết: ngày trước, khi chưa có đường, những người như chị Lành phải chống thuyền lên chợ Diên Sanh để bán cá, bán tôm, cả đi lẫn về mất hơn nửa ngày. Còn bây giờ không cần đi chợ vì đã có thương lái về thu mua ngay đầu ngõ. Tiền cứ thế thu về, một đêm có thể kiếm được vài trăm nghìn đồng, tuy không nhiều nhưng cũng không hề nhỏ.

 
Rời chợ cá, chúng tôi lang thang khắp Càng Hội Điền và thấy niềm vui lớn nhất của bà con là chuyện học hành của con trẻ. Tại một số Càng nhà nước đã quan tâm đầu tư xây dựng lại trường học khang trang hơn, theo đó hàng năm đội ngũ giáo viên thay phiên nhau về Càng để chăm cho học sinh từng con chữ.  Lớp học thường là lớp ghép, bởi trong đó có học sinh lớp 1, lớp 2 và lớp 3. Các em là những mầm, chồi, nụ, là những niềm hy vọng của tương lai. Là nguồn động viên khích lệ để người dân yên tâm mà gắn bó dài lâu với quê hương bản quán.
 
Cầu cây Da bắc qua dòng Ô Giang và nhà thờ cây Da
 
Nếu những làng mạc vùng hạ lưu dòng Ô Lâu đã được thành lập sau khi vua Chiêm dâng châu Ô và châu Rí làm sính lễ xin cưới Huyền Trân công chúa, vùng Càng trở thành một phần lãnh thổ của nước Đại Việt, đến nay đã hơn 700 năm, tính ra các  vị khai canh đã truyền được trên 20 đời con cháu.
 
 Như vậy vùng Càng đã ra đời khoảng trên dưới 500 năm. Qua mấy trăm năm chịu đựng cuộc sống khó khăn, chúng tôi cứ băn khoăn vì sao người vùng Càng đã không bỏ xứ ra đi. Phải chăng vì họ đã tìm thấy cuộc sống an nhiên, tự tại với tháng rộng ngày dài giữa mênh mông sóng nước, họ đã quen sống tự do và đã từ lâu đã thích nghi với môi trường sống có phần hoang dã nơi này. Những người thường hay nói chuyện chữ nghĩa thì bảo, người ở Càng ở lại vì  đã làm theo lời dặn dò của các bậc tiền nhân như đôi câu đối trong miếu thờ ở càng Hưng Nhơn: “Tiền nhân khai phá ma lâm xứ - Hậu thế bảo tồn Vĩnh Hưng thôn”, đại ý là: Người đi trước khai khẩn chốn rừng thiêng - Thế hệ cháu con gìn giữ mảnh đất Vĩnh Hưng.
 
 Còn với chúng tôi, qua chuyến đi về với vùng Càng, dù chỉ là thoáng qua như thuyền đi trên nước, nhưng câu chuyện về Càng cũng đã kịp trở thành ký ức đẹp về một vùng đất hoang dã mà hào phóng. Con người hiền hòa, mến khách mà bản lĩnh kiên cường. Đó là nét đẹp về sự tương thân tương ái của cả cộng đồng đã giúp nhau vượt qua biết bao gian khó, để rồi cùng nhau tạo dựng nên cuộc sống vững bền từ đời này sang đời khác.   

 
Lưu luyến chia tay vùng Càng khi người dân từ khắp 7 càng đang tụ hội về Hội Điền để dự lễ đua thuyền. Trong tiếng hò reo kia chúng tôi có cảm giác như đang được sống lại không khí của buổi hồng hoang, thủa tiền nhân đi mở đất, cái thủa mà con người và chim trời vẫn là bạn. Và cứ mỗi khi vào mùa nước nổi, từng đàn thiên nga lại rủ nhau bay về trắng cả đất trời./.

Phan Tân Lâm 

Thích và chia sẻ bài viết qua

Nhập bình luận của bạn:

Ý kiến bạn đọc ()

Lịch phát sóng truyền hình
Cột phải trên
Cột phải dưới

Thăm dò ý kiến

Bạn xem Truyền hình Quảng Trị bằng phương thức truyền dẫn nào?
Sóng mặt đất (VHF - 6)
Vệ tinh (Vinasat 1)
Truyền hình cáp
Truyền hình Internet (OTT)
Truyền hình IP (MyTv)
Truyền hình di động (MobileTV)
Mạng xã hội