Tin tức

Dặm đường máu lửa

Thứ năm, 31/01/2019 - 08:23

Gần 1.500 ngày giữ đảo, tấm gương anh hùng Lê Văn Ban ai cũng biết đến, nhưng vẫn còn đó những chuyến vượt biển trong đêm tối gió mùa, những trận hải chiến diễn ra ác liệt, những đòn thù tra tấn dã man trong các nhà tù đế quốc… thì không phải ai cũng biết. Xin được nói về những chàng trai dũng cảm ở các xã vùng biển Vĩnh Linh hiến trọn tuổi thanh xuân trong cuộc chiến đấu bảo vệ đảo Cồn Cỏ.

Biển gọi tên anh...

Một ngày giữa Đông, bên ly chè xanh nóng hổi, thơm lừng ông Lê Cường ở xã Vĩnh Quang (nay là thị trấn Cửa Tùng), người chiến sĩ dân quân dũng cảm năm nào nay tuổi ngoại 70 bồi hồi nhớ lại…

 
Chiến sĩ Công an vũ trang bảo vệ giới tuyến trên vùng biển Cửa Tùng. (Ảnh tư liệu)

Năm 1965, sau sự kiện Vịnh Bắc bộ được dàn dựng trước đó, dưới cái gọi là chiến dịch “Sấm rền” Tổng thống Mỹ Giônxơn thực hiện chiến lược chiến tranh phá hoại, đưa chiến tranh leo thang ra miền Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân. Do nằm ở vị trí chiến lược, là tiền đồn phía đông Vĩnh Linh, ngày 8.2.1965 Không quân, Hải quân Mỹ bắn phá, ném bom mở đầu cho gần 1500 ngày bao vây, phong tỏa đảo Cồn Cỏ. Kể từ đây cuộc chiến đấu bảo vệ đảo vô cùng cam go của quân và dân ta cũng bắt đầu.

Đến giữa năm 1965 mức độ đánh phá đảo Cồn Cỏ của Hải quân Mỹ ngày một ác liệt. Hầu như ngày nào khói lửa, đạn bom cũng trùm lấy hòn đảo nhỏ này. Nhưng lực lượng đồn trú trên đảo kiên cường đánh trả. Có ngày bộ đội anh dũng chiến đấu 5 đến 6 trận với máy bay và tàu chiến địch. Với mức độ ác liệt ròng rã kéo dài, lương thực, đạn dược, nước ngọt vơi dần. Nhiều chuyến vượt biển đến đích an toàn nhưng cũng không ít lần gặp địch buộc phải chiến đấu, hy sinh. Lương thực, vũ khí và máu hòa vào biển cả.

Đêm 29.5.1965 Đài quan sát báo yên, một đoàn thuyền gồm 12 chiếc của các xã vùng biển Vĩnh Linh dưới sự chỉ huy của đồng chí Trương Văn Bút trở lại đất liền sau khi đã đưa gần 30 tấn vũ khí ra Cồn Cỏ. Cách đảo chưa đầy 10 hải lý bất ngờ gặp một đội tàu địch phục kích. Chúng bắn hỏa châu sáng rực một góc trời. Ỷ thế tàu lớn, hỏa lực mạnh, Hải quân Mỹ định bắt sống các thuyền viên. Trước tình thế hiểm nghèo, các chiến sĩ dân quân vẫn bình tĩnh chờ địch đến gần rồi bất ngờ đồng loạt nổ súng. Các loại hỏa lực AK, đại liên, B40, B41 dội bão lửa buộc tàu địch dạt ra xa. Chúng điên cuồng bắn trả. Khói lửa bao trùm đội hình của ta, một số thuyền bị chìm, nhiều thuyền viên hy sinh, tuy nhiên chúng không dám lại gần. Các chiến sĩ dân quân vừa đánh trả vừa chèo mạnh vào phía đất liền. Cuộc chiến đấu diễn ra gần 3 giờ đồng hồ, bất ngờ giông tố nổi lên, mưa to gió lớn quật vào đội hình của hai bên. Trong đêm tối mưa gió mịt mù 5 chiếc thuyền của ta mất phương hướng, trôi dạt vào Cửa Việt. Các anh: Nguyễn Văn Khoa, Lê Cường cùng hàng chục thuyền viên của đoàn vận tải rơi vào tay giặc và bị giam cầm trong các nhà tù ở miền Nam. Thuyền của anh Lê Văn Ban ( người được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng) may mắn dạt vào vùng giải phóng, được cán bộ và nhân dân giúp đỡ, vượt Trường Sơn trở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu.

 
   Bộ đội đảo Cồn Cỏ đón hàng từ đất liền tiếp tế. (Ảnh tư liệu)

Nửa đầu năm 1966, đảo Cồn Cỏ bị Hải quân Mỹ và Hải thuyền ngụy phong tỏa gắt gao hơn, mọi hướng vào đảo bị bịt chặt. Chúng cho rằng, các đơn vị đồn trú trên đảo bị đói, khát nhất định phải buông súng đầu hàng. Theo lời kêu gọi của Khu ủy Vĩnh Linh, trong thời gian này có hàng chục chuyến thuyền của các xã vùng biển bất chấp hiểm nguy chở hàng ra đảo. Tuy nhiên, không có chuyến hàng tiếp tế nào trót lọt. Hầu như chuyến đi nào cũng đụng độ với tàu địch, các chiến sĩ dân quân anh dũng chiến đấu và hy sinh. Tuyến đường ra đảo bị chia cắt trong mấy tháng liền. Điện từ Cồn Cỏ cho biết: Lương thực, thuốc men, đạn dược, nước ngọt đang cạn dần...

Trước tình thế vô cùng cấp bách ấy, chiến sĩ dân quân xã Vĩnh Quang là Lê Thanh Dư đề xuất ý tưởng táo bạo: đi đêm không được chuyển sang đi ngày. Được sự đồng ý của Đảng ủy xã, một đội thuyền bốn chiếc dưới sự chỉ huy của anh rời bến vào một trưa tháng 6 năm 1966. Trước đó, một buổi lễ truy điệu sống cho những người cảm tử được Đảng ủy xã Vĩnh Quang tổ chức. Bốn chiếc thuyền chở hàng mang theo lưới, căng buồm đi chếch lên hướng đông bắc giả vờ đánh cá để đánh lừa máy bay trinh sát Mỹ. Trời sẩm tối, những chiếc thuyền đổi hướng về phía đảo. Chuyến đi thành công đưa ra đảo được 6 tấn hàng nhưng là niềm động viên vô cùng to lớn đối với những người đi tiếp tế và lực lượng giữ đảo. Người chiến sĩ dân quân ưu tú Lê Thanh Dư được đồng bào, đồng chí mến phục. Nhưng sau đó ít lâu, anh đã anh dũng hy sinh trong một trận chiến đấu ác liệt đánh trả máy bay địch, để lại tiếc thương cho đồng đội. 
 
Trở về sau chuyến tiếp tế thành công. (Ảnh tư liệu)
 
Noi gương những người đi trước, nhiều thanh niên, phụ nữ, một số cụ già ở tuổi 70 vẫn tình nguyện ra đảo. Thời gian này nhiều đội thuyền của các xã ven biển Vĩnh Linh tiếp tục vượt biển bất chấp sự phong tỏa gắt gao của tàu địch. Hàng chục cuộc chiến đấu trên biển tiếp tục nổ ra. Tấm gương thuyền trưởng Lê Hữu Đắc dù bị thương nặng vẫn không buông tay lái, đưa hàng ra đến đảo mới vĩnh biệt đồng đội. Nhiều trường hợp con ngã xuống, cha thay thế xung phong lên đường.  Máu tiếp tục nhuộm hồng nước biển nhưng vũ khí vẫn đến với bộ đội, đảo không bị cô lập.

Nhớ lại một đêm cuối tháng 1 năm 1967, chỉ còn ít ngày là đến tết Đinh Mùi. Một đội thuyền 6 chiếc của các xã Vĩnh Quang, Vĩnh Giang cùng đơn vị C22 (bộ đội tiếp tế đảo) chở lương thực, đạn dược, quà bánh của đồng bào cả nước gửi ra cho bộ đội đón tết bên chiến hào. Trời vừa sẩm tối, toàn đội giương buồn lặng lẽ rời bến ra khơi. Đêm cuối Đông, mặt biển lô xô, gió bấc thổi chếch từ hướng mũi làm cho tốc độ thuyền chậm lại, mọi người ra sức đẩy mái chèo. Trời lạnh cóng nhưng ai cũng vã mồ hôi. Không la bàn, không một ánh đèn hiệu, thuyền đi sau lặng lẽ bám theo thuyền đi trước và họ chỉ nhận ra nhau qua vệt sáng lờ mờ từ những cánh buồm nâu. Điều khiển thuyền đi trước là người có nhiều kinh nghiệm, giỏi đi biển nhất. Họ chỉ cần căn cứ vào hướng gió, hướng sóng vỗ vào mạn thuyền có thể xác định hướng đảo. Bất chấp đạn bom, hàng đêm những ngọn đèn trên đảo vẫn thức để định hướng cho lực lượng tiếp tế. Khi đủ gần để nhìn thấy ánh đèn, người đi tiếp tế mới biết chắc chuyến đi thành công. Nhưng đêm nay…
 
Ông Lê Cường người chiến sĩ dân quân dũng cảm, cựu tù yêu nước. (Ảnh Trường Nhật)

Rời bến chừng hơn 8 hải lý, mặt biển bỗng nhiên bừng sáng bởi đèn hỏa châu và ánh sáng đèn pha từ nhiều hướng. Đội thuyền của ta rơi vào ổ phục kích của địch. Dù đưa được đội hình của ta lọt giữa vòng vây nhưng với sự ranh ma xảo quyệt, chúng vẫn giữ cự ly an toàn đề phòng bị phản kích. Tuy vậy, với tốc độ của những chiếc thuyền buồm khó lòng vượt qua được vòng vây của những tàu chiến Mỹ. Cuộc chiến đấu bảo vệ hàng hóa là điều không thể tránh khỏi.

Trong phút giây sinh tử, các chiến sĩ dân quân không hề nao núng. Theo phương án đã được thống nhất từ trước, thuyền đi đầu chậm lại, những thuyền đi sau tỏa ra hai bên theo hình cánh cung đối mặt với tàu địch. Các loại súng bộ binh nhanh chóng được triển khai hai bên mạn thuyền. Chờ địch đến gần, ta đồng loạt nổ súng. Tiếng súng AK xen lẫn tiếng gầm dữ dội của súng B40, B41. Bị đánh phủ đầu khiến bọn địch bàng hoàng. Một tàu địch trúng đạn, đèn pha vụt tắt. Dù bất ngờ, nhưng gần như tức khắc bọn địch đáp trả. Các loại vũ khí điên cuồng trút hỏa lực dữ dội xuống đội thuyền của ta. Cuộc chiến đấu không cân sức trên biển diễn ra ác liệt. Những chiếc thuyền chở hàng trúng đạn lần lượt chìm xuống biển. Nhiều chiến sĩ dân quân đã anh dũng hy sinh, người bị thương rơi vào tay địch. Máu, mảnh thuyền vỡ loang trên mặt nước, nhưng không một viên đạn không một kiện hàng rơi vào tay địch.

Đây chỉ là một số rất ít trong hàng chục trận đánh ác liệt của các chiến sĩ dân quân với quân thù. Khó có thể nói hết tinh thần chiến đấu, sự dũng cảm vô song của lực lượng dân quân trực chiến của các xã ven biển Vĩnh Linh trên dặm đường máu lửa...

… Đến các nhà tù đế quốc:

Trong những trận chiến đấu các liệt, có hàng chục chiến sĩ dân quân rơi vào tay địch bị chúng giam cầm tại nhà tù Tân Hiệp (Biên Hòa) một trong 6 nhà tù lớn nhất và khét tiếng ở miền Nam. Chúng xem các anh là “tù binh cộng sản”, giam chung với các chiến sĩ cách mạng. Thời gian đầu chúng thẩm vấn kết hợp với những đòn tra tấn cực hình để lấy thông tin về quy luật đi biển, nơi cất dấu vũ khí ở đất liền, cách phòng thủ của bộ đội trên đảo… Dù bị tra tấn dã man nhưng họ nhất quyết không khai, chỉ nhận mình là ngư dân nên chẳng biết gì.

Một điều mà các chiến sĩ dân quân không biết trước khi bị cầm tù là trong các nhà tù của địch đều có tổ chức của ta. Có tù nhân mới, các đồng chí trong tổ chức tìm cách tiếp cận, ân cần động viên, khích lệ tinh thần chiến đấu anh dũng của những dân quân tuyến lửa Vĩnh Linh. Họ nhường cơm, xẽ áo, truyền đạt kinh nghiệm quý báu khi đối diện với bọn cai ngục. Nhờ đó các anh không cảm thấy đơn độc và như được tiếp thêm sức mạnh. Sau những đòn tra khảo, chúng bắt chào cờ ba que, ly khai cộng sản nhưng các anh: Nguyễn Văn Khoa, Lê Cường, Lê Đôn, Hoàng Toan và nhiều tù nhân kiên quyết không làm theo. Bực tức, bọn chúng tống những “tù binh cộng sản” bướng bỉnh này vào phòng biệt giam hòng khuất phục ý chí.

Chúng còn giam nhiều thuyền viên khác khắp các nhà tù ở miền Nam như Huế, Đà Nẵng và Sài gòn. Ở đâu cũng vậy, những “tù binh cộng sản” bị biệt giam, tra tấn để lấy thông tin. Trước những trận đòn thù, các chiến sĩ dân quân đất lửa anh hùng nhất quyết giữ vững lời thề trước cờ Tổ quốc và quê hương ngày lên đường chiến đấu. Máu của họ tiếp tục đổ xuống nhưng bọn địch bất lực không lấy được thông tin gì.

Ngày trở về:

Những trận đụng độ trên biển chỉ cách đất liền chừng 15 km nhưng trong những cuộc chiến đấu sinh tử ấy người trên đất liền không thể biết ai còn, ai mất. Vào nhà tù đế quốc không một tin tức, các anh biệt tích từ đó. Ở quê hương, họ đã được báo tử và nhiều gia đình lập bàn thờ để thờ tự. Dường như không một ai nghĩ rằng các anh đang còn đâu đó trên cõi đời này.

Vào ngày 17.7.1970 nghĩa là sau 6 năm xa cách, một số người mẹ mất con, người vợ mất chồng bỗng dâng òa khóc khi nghe tin các anh trở về. Giữ những “tù binh cộng sản” cứng đầu cũng chẳng được gì, bọn địch đành phải thả các anh trong đợt trao trả tù binh vào tháng 7 năm 1970.

Trở về với quê hương, về với đồng bào, đồng chí giữa lúc cuộc chiến vẫn còn nóng bỏng. Hàng ngày đạn bom vẫn cày xới trên quê hương, con đường ra đảo vẫn còn giông tố. Không nghỉ lấy một ngày, các anh tiếp tục tham gia sản xuất, chiến đấu và tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ hoặc xuôi ngược đưa hàng phục vụ cho mặt trận Trị - Thiên. Dẫu biết trên dặm đường máu lửa ấy vẫn còn mất mát, hy sinh nhưng không một ai sờn lòng nãn chí, họ vẫn tiếp bước đến ngày thắng lợi cuối cùng.

Đối với những người mãi mãi ra đi ở lứa tuổi thanh xuân khi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chắc các anh vẫn yên lòng vì luôn có đồng đội trên tuyến đường này. Nơi các anh nằm xuống là biển quê hương dạt dào sóng vỗ, cánh hải âu chao liệng những sớm chiều. Hàng phi lao ngàn năm vẫn ca ngợi chiến công bất tử, biển vẫn gọi tên anh…

Ngày nay, những con sóng hiền hòa nhẹ nâng những con tàu du lịch ra đảo, xin đừng quên gửi những bông hoa hồng xuống biển để tưởng nhớ, tôn vinh những người con gửi trọn đời mình trên “Dặm đường máu lửa”…

Thích và chia sẻ bài viết qua

Nhập bình luận của bạn:

Ý kiến bạn đọc ()

Lịch phát sóng truyền hình
Cột phải trên
Cột phải dưới

Thăm dò ý kiến

Bạn xem Truyền hình Quảng Trị bằng phương thức truyền dẫn nào?
Sóng mặt đất (VHF - 6)
Vệ tinh (Vinasat 1)
Truyền hình cáp
Truyền hình Internet (OTT)
Truyền hình IP (MyTv)
Truyền hình di động (MobileTV)
Mạng xã hội