Tin tức

Theo chân những người chiếu phim miền núi đến bản Cát và Trỉa

Thứ tư, 10/10/2018 - 09:38

Một ngày đầu tháng 5, theo chân những người làm công tác chiếu phim miền núi, chúng tôi đã có dịp trở lại bản Cát và bản Trỉa, là 2 bản xa nhất của xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa.

Thu hoạch mùa ở bản Cát- Hướng Sơn- Hướng Hóa

Nhớ lại lần đầu đặt chân đến Cát và Trỉa cách đây gần 7 năm về trước, chúng tôi xuất phát từ làng Mới rồi xuôi về Trỉa để qua Cát, toàn bộ chặng đường cả đi lẫn về ngót hơn bốn chục cây số.
 
Chuyến đi lần này đường sá vẫn vậy, vẫn là lối mòn cheo leo vắt qua từng quả đồi, từng ngọn núi đã có từ những năm chiến tranh, chỉ khác là không phải đi bộ mà đi bằng xe máy… Đường đi tiềm ẩn rủi ro bởi vực thẳm, núi cao, chúng tôi tự nhủ, nếu không có bạn đồng hành là những người chiếu phim miền núi, có lẽ cũng đành phải đi bộ như lần trước.   
 
“Chênh vênh dốc đá chênh vênh
Xe thồ chở máy dừng chân lưng đồi
Đường lên Cát, Trỉa xa xôi
Có dân, có bản chúng tôi vượt đèo”
 
 
Nghe những câu thơ mộc mạc của một thành viên trong đội chiếu phim miền núi Quảng Trị, chúng tôi càng trân trọng tình cảm gắn bó giữa các anh với đồng bào Vân kiều, Pa Kô giữa núi rừng Trường Sơn trên mỗi cung đường mà các anh đã đi qua.  
 
Dừng chân trên đỉnh dốc ngay đầu bản Trỉa, người đi đường thường gọi là dốc “ Mạ ơi” vì độ dốc quá lớn nên lên dốc hay xuống dốc cũng đều hết sức gian nan. Trước mắt chúng tôi dưới chân những dãy núi trùng điệp là cánh đồng bản Trỉa như một tấm thảm màu vàng rực rỡ, những thửa ruộng đang vào vụ thu hoạch.   
 
Cánh đồng với những thửa ruộng bậc thang là nguồn sống chủ yếu của hơn 30 nóc nhà với khoảng gần 200 nhân khẩu ở Trỉa. Từ lâu cây lúa nước đã được bà con Vân kiều gieo cấy 2 vụ như dưới xuôi. Với địa thế bốn phía đều là núi, đất ruộng nhờ vậy nên khá màu mở, nguồn nước lại dồi dào nên cây lúa tuy năng suất khá cao và cũng ít bị mất mùa. Ngoài ra bà con còn tận dụng các bãi đất bằng ven suối để trồng thêm ngô và hầu như gia đình nào cũng có chăn nuôi gia súc.   
 
Bước chân vào bản Trỉa, không khí ngày mùa hiện rõ, nhiều gia đình đã có lúa để phơi. Trẻ con là vui nhất vì được ăn cơm mới, con vật nuôi cũng béo tốt được vì được no cái bụng.

 
Trẻ em Vân Kiều ở bản Trỉa - Hướng Sơn - Hướng Hóa
  
Dạo quanh bản một vòng cảm nhận của chúng tôi là ý thức cộng đồng của người Vân Kiều ở Trỉa rất cao, nói cách khác, đồng bào luôn quan tâm giữ gìn truyền thống “Tối lửa tắt đèn có nhau” Ví như việc giúp nhau thu hoạch lúa như là một biểu hiện thật sinh động. 
 
Cây lúa nước đã giúp bà con nơi đây ngày càng chủ động về lương thực tại chỗ, hạn chế dần tình trạng đốt, phá rừng để làm rẫy. Tuy vậy bà con cũng chỉ mới tạm yên tâm vì không còn lo thiếu đói, trong khi nhiều nhu cầu chính đáng khác của cuộc sống vẫn chưa thể đáp ứng, nhất là chưa có điện thắp sáng và nổi lo về giao thông đi lại mỗi khi trong bản có người  bị ốm đâu trong mùa mưa lũ . Ông Trần Giang Sơn, già làng ở bản Trỉa tâm sự “ Mình lo nhất là khi trong bản có người ốm đâu phải đi viện, hay phụ nữ sinh để khó. Những lúc như vậy cả bản phải thức trắng đêm vượt rừng để đưa người đến bệnh viện”.
 
Đến với bản Trỉa, niềm vui lớn nhất là từ nhiều năm nay trẻ em đều được đến trường học cái chữ. Đặc biệt lần đầu tiên bản Trỉa có một nữ sinh tên là Hồ Thị Mái đã trở thành cô giáo và quay về phục vụ bản làng. Với người Vân Kiều ở Trỉa có thể nói đây là một câu chuyện cổ tích.
 
Tuy nhiên, ở Trỉa nổi lo cho sự nghiệp trồng người vẫn còn đó, ngôi trường đầu tư xây dựng theo chương trình 135 sau nhiều năm đã xuống cấp, bàn ghế không được đảm bảo cho việc dạy và học. Học sinh muốn học lên cấp 2 rồi cấp 3 đều buộc phải sống xa gia đình, đòi hỏi bố mẹ phải có điều kiện kinh tế nhất định, trong khi việc đi lại là thử thách không hề đơn giản.  
 
Rời bản Trỉa, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình xuôi về bản Cát. Đường đi vẫn gian nan, trắc trở, trời nắng như đổ lửa, con dốc phân chia giữa Trỉa và Cát dường như là một thử thách quá sức với những ai đi xe máy leo dốc chỉ một mình.  
 
Bản Cát nằm giữa thung lũng, bốn bề là núi non trùng điệp. Những ngọn núi nằm về phía Đông sát ngay đầu bản hầu như không có cây rừng, thay vào đó chỉ có cỏ tranh hoặc trơ ra toàn đá xám và đất bạc màu. Chất hóa học do quân đội Mỹ rải xuống trong chiến tranh có hủy diệt thật ghê gớm. Hơn 40 năm đã trôi qua mà cây rừng vẫn chưa thể hồi sinh. Với những người từng trải qua chiến tranh như mẹ Hồ Thị Tơ, ký ức về cuộc sống khó khăn ngày ấy thật khó quên “ Những năm 1067- 1068 bom đạn suốt ngày đêm, dân bản mình đều phải vào sống trong hang đá. Nhiều người sợ quá đã chạy lên Hướng Lập và chạy sang tận bên đất Lào”.
 
Nhưng những dãy núi phía Tây và phía Nam bản Cát của Hướng Sơn vẫn còn khá nguyên vẹn. Những cánh rừng già quanh năm chìm trong sương đã góp phần hạn chế lũ lụt và mang lại nguồn nước mát lành giúp dân bản phục vụ sinh hoạt và sản xuất. 
 
Chúng tôi đã từng đi qua nhiều bản làng miền núi trên đỉnh Trường Sơn nơi miền tây Quảng Trị, nhưng ít ở đâu có được cánh đồng lúa màu mỡ như ở bản Cát, có lẽ vì vậy mà người dân vẫn gắn bó với bản làng cho dù việc đi lại còn hết sức nan giải. Để giúp người dân có điều kiện phát triển kinh tế, Đoàn Kinh tế quốc phòng 337 đã đầu tư gần 3 tỷ đồng để xây dựng công trình thủy lợi Cát Sứ. Dân bản rất biết ơn những người lính cụ Hồ vì đã đổ bao mồ hôi công sức dẫn nước từ khe Miếu về tưới tắm cho ruộng đồng. Có thể nói, nguồn nước thủy lợi từ Khe Miếu ví như là chiếc chìa khóa thần kỳ giúp mở ra cánh cửa để đồng bào tự tin biến những vùng đất từng bị bỏ hoang trở thành ruộng vườn trù phú. Dẫn chúng tôi đi thăm bà con đang thu hoạch, anh Hồ Văn Ri thôn trưởng cho hay, bản Cát có hơn 70 gia đình, diện tích ruộng hơn 20 ha, nhà nào cũng làm lúa nước 2 vụ nên cơ bản đảm bảo lương thực hàng năm.

 
  Sơn nữ ở bản Trỉa gỉa gạo


Cơn mưa rừng bất chợt kéo đến thật nhanh, buổi chiều ở Cát cũng qua đi thật vội. Nghe tin có đội chiếu phim miền núi lên phục vụ nên bà con từ trẻ em đến người già ai cũng háo hức. Còn với những người chiếu phim sau khi đã vượt qua chặng đường rừng hiểm trở, đến được Trỉa rồi sang Cát, đối với họ là xem như được trở về quê nhà để gặp lại người thân. Trải qua nhiều năm găn bó với địa bàn miền núi, cùng chia ngọt sẻ bùi với đồng bào Vân kiều, Pa Kô, chính những thành viên của các đội chiếu phim miền núi luôn cảm nhận đầy đủ về những đổi thay và những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào ở từng bản làng mà các anh đã dừng chân.
 
Buổi chiếu phim diễn ra ngay phía trước nhà cộng đồng của bản, nhờ phương tiện máy móc ngày càng gọn nhẹ nên việc chuẩn bị cho buổi chiếu thuận lợi và nhanh chóng. Dưới ánh trăng giữa núi rừng, với chúng tôi những buổi chiếu phim như thế này từ rất lâu đã không còn bắt gặp ở miền xuôi, cuộc tao ngộ gợi nhắc biết bao kỷ niệm về một thời khó khăn, nhưng cũng thật hồn hậu.     
 
Cũng như ở bản Trỉa, ngay trung tâm của bản Cát có một ngôi trường cấp 1, song tình hình chung cũng khó khăn như nhở Trỉa, học sinh hết lớp 5, nếu muốn tiếp tục đi học thì phải vượt khoảng 20 cây số đường rừng lên trung tâm xã Hướng Sơn để học bán trú. Bởi vậy, chỉ những gia đình có điều kiện kinh tế thì con cái mới có điều kiện học lên cấp 2.
 
Về y tế, tại bản Cát có một ngôi nhà làm địa điểm cấp phát thuốc cho dân bản, nhưng xem chừng đã bị bỏ hoang từ lâu, có lẽ vì giao thông cách trở nên cán bộ y tế tuyến trên chẳng mấy khi về với bản Cát. Đồng bào Vân kiều ở Trỉa và Cát, khi được thăm hỏi về đời sống, bà con bao giờ cũng chỉ có một ước mơ về một con đường để đi lại.
 
Hai bản Cát và Trỉa là vùng đất vẫn còn nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, trong đó nhất là đầu tư trồng rừng, phát triển chăn nuôi gia súc… Cùng chia vui với dân bản về dòng điện thắp sáng cho con trẻ học bài đã thành hiện thực. Nhìn cánh đồng lúa chín vàng đang vào vụ gặt, chúng tôi cũng như những người làm công tác chiều phim miền núi Quảng Trị thầm chúc cho đồng bào nơi đây luôn có những mùa vàng bội thu để cuộc sống luôn được ấm no./.
                                                      
 
Phan Tân Lâm
 

Thích và chia sẻ bài viết qua

Nhập bình luận của bạn:

Ý kiến bạn đọc ()

Lịch phát sóng truyền hình
Cột phải trên
Cột phải dưới

Thăm dò ý kiến

Bạn xem Truyền hình Quảng Trị bằng phương thức truyền dẫn nào?
Sóng mặt đất (VHF - 6)
Vệ tinh (Vinasat 1)
Truyền hình cáp
Truyền hình Internet (OTT)
Truyền hình IP (MyTv)
Truyền hình di động (MobileTV)
Mạng xã hội