Tin tức

Thương nhớ một đời sông

Thứ ba, 06/11/2018 - 08:35

Dẫu rằng bạn và tôi chưa đi hết được mọi miền của Tổ quốc, nhưng cũng có thể biết được rằng, đất nước mình là đất nước của những dòng sông… Mỗi dòng sông đều mang trong mình một số phận với một vẻ đẹp riêng, một huyền thoại riêng gắn với vận mệnh đất nước, với từng thời khắc thăng trầm, vui buồn của dân tộc trên dải đất hình chữ S thân yêu này.

Sông Sa Lung

Những dòng sông ấy chảy tràn qua tháng qua năm, đi vào thi ca nhạc hoạ và cứ mãi thao thức, cứ mãi hát lên những điều thiêng liêng thầm kín, nối tiếp nhau từ thế hệ này qua thế hệ khác như một bản trường ca nối dài bất tận của thời gian…
 
Có một dòng sông bắt nguồn từ chân dãy Trường Sơn chảy qua thị trấn Bến Quan, rồi lững lờ uốn khúc tạo nên một vùng sinh thủy cho cả vựa lúa huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Dòng sông ấy có tên gọi Sa Lung. Thực ra, tên khai sinh của dòng sông là Sa Long, bắt nguồn từ huyền thoại Rồng sa vào thuở hồng hoang chưa có dấu chân người đi khai phá đất đai. Dòng sông mang tên huyền thoại chảy trong lòng các thế hệ cư dân ở đôi bờ với những cảm nhận, suy tưởng khác nhau, nhưng đều có chung sự thiêng liêng huyền bí được lưu truyền từ đời này sang đời khác…Trải qua bao biến thiên dâu bể, cùng với sông Bến Hải, phù sa sông nước Sa Lung đã góp phần bồi đắp nên cánh đồng: Vĩnh Lâm, Vĩnh Sơn, Vĩnh Thủy, Vĩnh Long, Vĩnh Chấp, trở thành vựa lúa của huyện Minh Linh xưa, nay là huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
 
Hoài niệm tổ tông, chúng tôi, những gã đa đoan vất vưởng, rưng rức bồi hồi một tình yêu quê nhà xa xăm đã tìm về làng quê Linh Hải, nơi con sông Sa Lung uốn lượn chảy qua. Chốn đây đất rộng người thưa. Ngôi làng Vỏn vẹn ước chừng không quá ba mươi nóc nhà. Mỗi gốc cây trong vườn vẫn mỗi ngày mỗi xanh, tưởng chừng sống lại bao mảnh đời quá khứ. Lòng vọng về bao bồi hồi thương nhớ, chúng tôi đi tìm lại dấu vết làng, cúi nhìn quá khứ trên chút tâm thức văn hóa của mảnh làng quê miền sơn cước.
 
 
Người già trong làng cho biết: thế núi hình sông vùng bán sơn thủy này chứa đựng những ba con vật sang: Rồng, Rùa và Voi.  Sa Lung chính là con rồng sa. Ngọn núi Linh Sơn án ngữ trầm mặc trước Linh Hải như bức bình phong tôn nghiêm của làng là phong thái con voi đang phủ phục, mà người làng quen gọi là núi Voi.
 
Lưu dân Linh Hải tứ chiếng, lang bạt, có khi thất cơ lỡ vận hội tụ về Linh Hải như các họ: Trần, Nguyễn, Lê, Cao, Phan, Võ, Trương, Trịnh , Lại.
 
Thật may mắn chúng tôi được gặp ông Nguyễn Văn Hậu quê gốc tận Vân Trình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, nay tuổi gần 80, lứa tuổi mà theo như cách nói của ông là  “giang hà gác kiếm”. Cho đến bây giờ ông Hậu là đời thứ 3 sinh sống ở làng Linh Hải này. Còn ngày xưa bố của ông đến Linh Hải bằng thuyền ngược dòng Sa Lung.
 
Linh Hải chất chứa trong mình tình thần cộng cảm, cộng sinh đến mức chan chứa tình người. Chưa thấy nơi nào đùm bọc cưu mang một bộ phận cư dân mà về sau trở thành con dân của làng như thế. Thoạt đầu nghe đâu chỉ giao lưu kinh tế, đổi chác qua lại những sản vật thứ yếu như củi lửa, lúa gạo, tôm cá đánh bắt ở mom sông. Dần dà quen biết, thân thiện, làng cấp luôn bãi đất bên hông con rùa vàng cho cư dân vạn chài cư trú, đặt tên là xóm Cồn Chài. Lưu dân Cồn Chài dù làm ăn sinh sống ở đâu, nhưng cứ Tết đến Xuân về là tìm về cố quận để đón Xuân.
 
Chúng tôi theo chân ông lê Đa kiểu đi tìm dấu tích xóm Cồn Chài xưa. Sát bờ sông vẫn còn đó rặng tre rì rào trong gió nghe như như vọng tiếng thời gian. Cái khoảnh đất, khoảnh trời Cồn Chài là minh chứng cho sự cộng cảm giữa thế giới con người với con người, giữa vạn vật muôn loài và cộng đồng làng nước.
 
Hơn bốn chục năm nay, từ khi chiến cuộc lan tràn, một bộ phận con dân của làng Linh Hải ly quê biệt xứ, không thấy ai tìm về cố quận. Bây giờ tất cả đã trôi về một phương trời vô vọng nào không biết. Đời cá bơi rông.  Bây giờ phủ lên Cồn Chài là một màu xanh ngút ngàn của sắn, cửa vừng. Thấp thỏm trong chúng tôi niềm hy vọng, biết đâu có ngày những đứa con sông nước còn biết tìm về nơi cội nguồn mảnh làng quê sơn cước này.
 
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông Lê Đa Kiểu là một người anh hùng chân đất của Linh Hải năm xưa. Trực chiến trên trận địa mười hai ly bảy, nhiều lần một mình ông vừa là xạ thủ tầm, hướng, nạp đạn và bóp cò, thay luôn công việc của bốn, năm xạ thủ và tham gai bắn rơi máy bay Mỹ. Nhưng điều đáng kính nể nhất ở con người này là từ trong chiến đấu đến sản xuất vẫn chỉ là dáng người nết đất, bình dị chân chất, không mảy may một chút công thần.
 
Sông Sa Lung và làng Sa Long đã đi vào cõi tâm linh của người dân ở miền đất này từ thuở ban đầu khai khẩn, khai canh. Sự sinh thủy của dòng sông đã giúp cho những kỹ sư thủy lợi thời nay có ý tưởng xây dựng một công trình thủy lợi ở phía Tây Vĩnh Linh để chống lại những trận đại hạn trong vụ gieo cấy lúa Hè – Thu.
 
           
       Nhà báo Võ Thế Hùng và vợ chồng ngư phủ trên dòng Sa Lung

 Ngược dòng thời gian, những đoàn người di cư từ phía Bắc vào đã dừng chân lập nghiệp tại Sa Long và tạo dựng nên làng nên xóm ngày nay. Theo sách Ô Châu cận lục của tiến sỹ Dương Văn An viết năm 1555: Vào đương triều Hậu Lê, vua Lê Thánh Tôn có chủ trương mở mang bờ cõi, đưa dân vào Châu Ô lập nghiệp. Hoàng hậu Lê Quí Phi được vua Lê Thánh Tôn phong Chúa, dẫn đầu một đoàn tùy tùng cùng với các quan Đề đốc tiến về phía Nam để khai phá đất đai. Khi đến Truông Nhà Hồ (giáp Hồ Xá), Hoàng hậu Lê Quí Phi cùng đoàn tùy tùng rẽ vào vùng đất có cây cối rậm rạp. Đi thêm chút nữa, họ bắt gặp sông Sa Lung. Thấy được vượng khí ở đây, Hoàng hậu cùng đoàn người quyết định dừng chân, chiêu tập dân cư từ các nơi ( chủ yếu là phía Bắc) đến dựng làng. Một miền đất rộng lớn từ Cổ Kiềng (xã Vĩnh Khê), Sen Thủy ( Quảng Bình) đến cả vùng đồng bằng huyện Vĩnh Linh được khai phá trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm, cuộc sống con người no đủ. Hoàng hậu cùng các quan dạy dân dựng nhà, biết đoàn kết, thương yêu đùm bọc lấy nhau để chống lại thú dữ, trộm cướp, đề phòng giặc xâm lăng. Cuộc sống thanh bình, lòng dân phấn chấn. Khắp nơi đều truyền đi câu hát:
                                    
Từ thời Thái Tổ, Thái Tông
Thóc lúa đầy đồng, chim chẳng muốn ăn
 
 
 Người dân làng Sa Long gọi Hoàng hậu Lê Quí Phi là Bà chúa Râm, có nghĩa là: Bà chúa như một cây đại thụ tỏa bóng râm mát che chở sinh mạng con dân. Để tưởng nhớ công lao to lớn của Bà chúa, nhân dân làng Sa Long lập miếu thờ ngay khi Bà vừa qua đời. Hàng năm, cứ đúng ngày Hai mươi bảy tháng Ba âm lịch, con em của làng dù đi xa cũng nhớ tìm về cùng xóm làng cúng giỗ Bà chúa:
                                      
Đi đâu cũng nhớ tháng Ba
Hai bảy giỗ Bà, tảo mộ vui xuân
Khắp nơi nô nức xa gần
Vĩnh Trung, Vĩnh Thái, Quảng Bình về đây…

 Qua các triều đại Minh mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đều có sắc phong, vật tặng cho Bà Chúa tại miếu thờ. Nhà nước đương thời coi Bà Chúa là người tiền khai khẩn xứ sở này nên trong miếu thờ, sau hậu chẫm có đèn, đai, ngai thếp vàng ròng, mũ Cửu Phụng gắn mặt Rồng vàng, áo bào gắn mặt rồng ngang, một vỏ trấu màu đen – là kỷ vật vô giá dành cho một Vương Phi có công lao góp phần làm phồn vinh đất nước.
 
Ở cạnh miếu thờ Bà có mộ quan Đề đốc tả, hữu được đắp to, có xây tường bao bọc. Đây là chốn linh thiêng, mọi người đến chiêm ngưỡng đều  kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của vị Hoàng Hậu hết lòng chăm lo cuộc sống của muôn dân, cùng ăn, cùng ở với dân ngay từ buổi sơ khai lập làng.
         
 Cái tên sông Sa Long và làng Sa Long đã có một thời gian dài trong lịch sử gắn liền với huyền thoại Rồng sa. Đến triều đại vua Gia Long (1801 – 1822), tất cả các địa danh làng xã, kể cả tên người không được đặt tên Long. Nếu lỡ đặt rồi thì phải đổi, không được phạm húy. Chính vì thế nên sông Sa Long phải gọi chệch thành Sa Lung. Còn làng Sa Long đổi sang Sa Trung.         
 
Trong quá trình điền giả tại Quảng Trị, cố Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng từng đưa ra giả thuyết,…nếu lấy sông Bến Hải làm hệ quy chiếu, thì đôi bờ Sa Lung - Bến Hải đã từng tồn tại nhiều đền tháp, thánh địa của người Chăm như: hệ tháp Vĩnh Lâm ở thôn Duy Viên, Vĩnh Sơn ở thôn Huỳnh Thuận và An Xá , tuy đã bị tàn phá theo thời gian và chiến tranh  nhưng vẫn còn có thể nhận thấy thuộc thế kỷ IX và đầu thế kỷ X…
 
Bên dòng Sa Lung phía trước làng Đơn Duệ, xã Vĩnh Hòa, người dân vẫn còn nhớ như in Thành Mưng sát cạnh bờ sông, tường thành được bồi bằng đất dài khoảng 300 mét đã gắn với tuổi thơ của bao chàng trai cho dù nay chỉ còn trong ký ức… Âm vang ngày cũ, lòng tự hào và biết ơn tiền nhân vẫn in đậm trong tâm trí những người con luôn nặng lòng với quê hương bản quán. Ông Trần Kiệm, một người con Đơn Duệ năm nay tuổi thất thập vẫn luôn đau đáu về làng đã đọc cho chúng tôi nghe mấy câu thơ mà ông đã nằm lòng từ ngày còn chăn trâu, tắm sông.
 
“Non nước Đại Việt ngàn xưa
Đất phương Nam mịt mù biên ải
Núi Linh Sơn chìm trong hoang dại
Sông Hồi nước đục ma thiêng
…..
Châu Minh Linh có tên từ buổi ấy
Ngẫm đã ngót chín thiên niên kỷ có thừa
Trong những người đi trấn ải ngày xưa
Tiền khai khẩn quý công là một
Người dân lập làng
Được vua ban tên làng Đơn Duệ…”
 
Gần trọn một đời người, dẫu vẫn biết sông có khúc người có lúc, nhưng những cánh buồm nâu của 60 năm về trước từ Cửa Tùng theo sông Bến Hải rẻ vào sông Sa Lung để lên Hồ Xá vẫn lướt gió trong tâm hồn Trần kiệm. Bên triền sông vào một buổi chiều tà, có lẽ chúng tôi đã nhìn thấy trong mắt ông những cánh buồm của thủa ấy!
 
Ông Trần Kiệm lại dẫn chúng tôi đi bên cạnh dòng Sa Lung để tìm lại dấu tích con đường thượng quan ngay đầu rú Trạ, vốn là con đường thiên lý Bắc Nam ngày xưa. Thử bước chân trên con có lẽ đã ngót nghìn năm tuổi, bâng khuâng chợt nghĩ không biết trong số cổ nhân từng xuôi nam ngược bắc, ai đã may mắn và đủ bản lĩnh đi đến đích, ai đành dang dỡ bước chân?
 
 
Đi dọc đôi bờ Sa Lung, đắm mình trong bao câu chuyện cổ, chợt thấy càng thêm yêu thương quê nhà, yêu thương dòng sông quê đâu chỉ chở nặng phù sa để dệt nên cuộc sống, mà còn là dòng sông ký ức, dòng sông hoài niệm để neo giữ bao người còn nhớ đến quê hương…
 
 Cụ Nguyễn Đăng Hạp - người bắt cọp cuối cùng ở làng Thủy Ba
 
Làng Thủy Ba trong câu chuyện này đã từ rất lâu không ai làm nghề bắt cọp nữa, nhưng dân làng vẫn thường kể cho nhau nghe, kể cho lớp con cháu lớn lên về một "nghề" nổi tiếng kinh hoàng và lạ lùng của cha ông xưa: Nghề bắt cọp.

Làng Thủy Ba thuộc xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị nằm bên con sông Sa Lung huyền sử. Thủy Ba xưa là căn cứ chống Pháp nổi tiếng, là căn cứ đầu não của cách mạng Vĩnh Linh, cho đến hôm nay vẫn chưa thôi vang vọng trong bài hát nổi tiếng của Nguyễn Văn Thương " Hướng về nam... Ai đã vô Đông Hà đã qua Hồ Xá đã đi Bích La, Thủy Ba, Triệu Phong..."

Rừng Thủy Ba  lắm cọp dữ. Ở miền Trung có nhiều câu ngạn ngữ về cọp. "Cọp Thủy Ba ma Bình Thuận" " Cọp Thủy Ba ma Trộ Rớ"! Vì rừng rậm lắm cọp dữ, người Thủy Ba phải bắt cọp để giữ làng, để được yên ổn.
 
Một buổi chiều chúng tôi tìm đến nhà cụ Nguyễn Đăng Hạp nay đã ngót 100 tuổi ở thôn Thủy Ba hạ. Có lẽ không ai có thể ngờ rằng cụ ông vẫn  còn minh mẫn đến như thế. Biết chúng tôi đến hỏi chuyện bắt cọp mắt cụ Hạp sáng lên, xúc động. Theo cụ Hạp và nhiều người già làng Thủy Ba kể lại thì săn cọp vô cùng nguy hiểm nhưng ly kỳ và hấp dẫn bởi cuộc săn nào cũng sôi động cuốn hút hết cả làng. Săn cọp ở Thủy Ba đã trở thành nghề cha truyền con nối. Trai tráng khỏe mạnh thì cầm đinh ba, giáo mác khiêng lưới vây lưới... Người già thì bày mưu tính kế trẻ con thì trống mõ hò reo phụ nữ thì lo cơm nước hậu cần. Bất chợt giọng cụ Hạp như chùng xuống khi nhớ về bài vè bắt cọp. Bài vè kể chuyện làng Thủy Ba bắt cọp và nhiều phen tráng đinh trong làng phải vào Kinh Đô Huế rồi ngược sông Hương để bắt cọp theo lệnh nhà Vua:
 
“Mồng Năm sắc mạng Vua ra
Tư tờ xuống huyện mà TổngThủy Ba đi liền
Đòi vô làm “ải" Thừa Thiên
Dữ ma độc nước không yên nhưng mà...
Đi ra đất nước ông bà
Côi sơn đưới thủy thiệt đà cheo leo
...Đời xưa nỏ có mô ri
Đời nay bắt dân bổ hộ cu li bắt hùm...”
 
Thủa Ba đầu nghề bắt cọp của người Thủy Ba ban đầu chỉ để tự vệ và giữ gìn cuộc sống của mính mình. Nhưng về sau chuyện đến tai vua chúa nên đã thành ra cái nghiệp đeo đẳng như là số phận. 
 
Trong đất trời của Thủy Ba chúng tôi còn nghe như tiếng reo hò dậy đất của làng Thủy Ba từ ngàn xưa mỗi lần bắt sống cọp.
 
Sóng nước Sa Lung cứ chảy trôi trên những nhịp thời gian, âm vang muôn vàn cung bậc, thao thức, lắng nghe và hát lên bao chuyện vui buồn của làng của xóm.
 
Và chúng tôi- những kẻ đa đoan - đã tìm trong hình ảnh của dòng sông không bao giờ cạn ấy cái nắng, cái gió và những cuộc đời như dòng sông luôn thao thiết trôi dòng… 
 
“Sa Lung, Sa Lung ơi,
Ôi dòng sông trong như nước mắt
Cứ dạt dào chảy mãi giữa hồn tôi…”
 
                                                                                
Tân Lâm

Thích và chia sẻ bài viết qua

Nhập bình luận của bạn:

Ý kiến bạn đọc ()

Lịch phát sóng truyền hình
Cột phải trên
Cột phải dưới

Thăm dò ý kiến

Bạn xem Truyền hình Quảng Trị bằng phương thức truyền dẫn nào?
Sóng mặt đất (VHF - 6)
Vệ tinh (Vinasat 1)
Truyền hình cáp
Truyền hình Internet (OTT)
Truyền hình IP (MyTv)
Truyền hình di động (MobileTV)
Mạng xã hội